vanban.org

Bản án 118/2024/LĐ-ST — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng Đ về việc: “tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội” với Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H.

1. Vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Hồng Đ với Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 02 năm 2012. 2. Điều chỉnh tên Nguyễn Hồng Đ trên sổ Bảo hiểm xã hội số 8010038633 thành tên Mai Thị Diễm T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Hồng Đào - Công ty Giai Hiệp"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng Đ về việc: “tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội” với Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Bộ luật Lao động; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 118/2024/LĐ-ST
Ngày 02 - 8 - 2024
V/v “Vô hiệu Hợp đồng lao động và
điều chỉnh tên trên sổ Bảo hiểm xã hội”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vụ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Lin

2. Bà Nguyễn Thị Rạt

Thư ký phiên tòa: ông Phan Thanh Tú -Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Tư - Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 114/2024/TLST - LĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc “yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST - LĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2024/QĐST - LĐ ngày 18/7/2024, giữa:

1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1991.

Địa chỉ: ấp Bến Long, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng Đ: ông Võ Hoài P, sinh năm 1988. Địa chỉ: xã Tân Phú, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Sản xuất giày Giai H. Địa chỉ: Lô B07, đường số 3, Khu Công nghiệp Đức Hòa 1, Ấp 5, xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. (vắng mặt)

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Mai Thị Diễm T, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp Bến Long, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

3.2. Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An. Trụ sở: số 08 tuyến tránh, phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 5 năm 2024, các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Hồng Đ do ông Võ Hoài P đại diện trình bày và yêu cầu:

Vào tháng 10/2010, do không hiểu biết về kiến thức về pháp luật lao động nên bà Đ có cho bà Mai Thị Diễm T mượn giấy tờ cá nhân để đi làm tại Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H với vị trí là công nhân từ tháng 10/2010 đến tháng 2/2012 mang tên của bà Đ và tham gia Bảo hiểm xã hội trên sổ số 8010038633.

Đồng thời từ tháng 12/2009 đến tháng 9/2021 bà Đ đi làm tại Công ty TNHH Vina-Vvà có tham gia Bảo hiểm xã hội trên số sổ 801003241. Đến tháng 10/2021, bà Đ nghỉ việc và đăng ký hưởng bảo hiểm thất nghiệp tại Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh Long An thì bà được duyệt hưởng thất nghiệp từ tháng 12/2021 đến tháng 11/2022 nhưng không được hưởng vì phát hiện trùng quá trình tham gia bảo hiểm.

Việc cho người khác mượn hồ sơ của mình đi làm và ký hợp đồng lao động là không trung thực và hiện tại gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Nguyễn Hồng Đ là không được hưởng các chế độ của Bảo hiểm xã hội.

Để có đủ hồ sơ tách quá trình tham gia Bảo hiểm xã hội bị trùng của bà Nguyễn Hồng Đ tại Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H và để bà Đ đủ điều kiện hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội một lần theo qui đinh nên bà Đ yêu cầu: tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Hồng Đ (nhưng người lao động thực tế là Mai Thị Diễm T) với Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H từ tháng 10/2010 đến tháng 02/2012 vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu do không đúng nhân thân để bà Đ đủ điều kiện hưởng Bảo hiểm xã hội theo qui định.

Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất giày Giai H được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H vẫn vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của bà Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Mai Thị Diễm T trình bày: vào tháng 10/2010, do không có hiểu biết về kiến thức về pháp luật lao động nên bà có mượn hồ sơ của bà Nguyễn Hồng Đ để đi làm tại Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H với vị trí là công nhân từ tháng 10/2010 đến tháng 2/2012 mang tên Nguyễn Hồng Đ và tham gia bảo hiểm xã hội trên số sổ 8010038633.

Nay qua yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng Đ bà T đồng ý vô hiệu hợp đồng lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất giày Giai H và xử lý hợp đồng vô hiệu do không đúng nhân thân.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An trình bày: qua yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng Đ nêu trên có liên quan số sổ bảo hiểm 8010038633 thời gian từ tháng 10/2010 đến tháng 2/2012 cho đúng đối tượng thụ hưởng. BHXH tỉnh Long An đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định. BHXH Long An sẽ căn cứ vào phán quyết của Tòa án để giải quyết theo quy định và không có ý kiến tranh chấp.

Quan điểm kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, xác minh. Toà án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Các bên đương sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Hồng Đ (nhưng người lao động thực tế là Mai Thị Diễm T) với Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H từ tháng 10/2010 đến tháng 2/2012; điều chỉnh thông tin cá nhân trên sổ bảo hiểm xã hội số 8010038633 thời gian tham gia bảo hiểm từ tháng 10/2010 đến tháng 02/2012 tên Nguyễn Hồng Đ thành tên Mai Thị Diễm T cho phù hợp với quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng Đ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là: “tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự. Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H có trụ sở tại Lô B07, đường số 3, Khu Công nghiệp Đức Hòa 1, Ấp 5, xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tư cách tố tụng, thời hiệu và phạm vi giải quyết.

Bà Nguyễn Hồng Đ người khởi kiện được xác định là nguyên đơn, Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H là người bị kiện được xác định tư cách là bị đơn. Bà Mai Thị Diễm T và Bảo hiểm xã Hội tỉnh Long An là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Thời hiệu khởi kiện: bà Nguyễn Hồng Đ khởi kiện Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H vì cho rằng quyền lợi bị xâm phạm do hợp đồng giả tạo là còn trong thời hiệu khởi kiện; bà Đ có quyền khởi kiện theo quy định Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và luật áp dụng.

Quá trình tố tụng: chứng cứ bà Nguyễn Hồng Đ có nộp sổ Bảo hiểm xã hội số 801003241 và sổ Bảo hiểm sổ số 8010038633 trên Trần Hồng Đvà ý kiến của Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An về quá trình đóng bảo hiểm từ tháng 10/2010 đến tháng 02/2012. Tòa án xét xử trên cơ sở chứng cứ do người khởi kiện cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập khi thấy cần thiết theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Về chứng cứ chứng minh cho lời trình bày các đương sự Tòa án đã thu thập đầy đủ.

Trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Võ Hoài P, bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Diễm T và Bảo hiểm xã Hội tỉnh Long An được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm.

.Về nội dung: Xét thấy bà Nguyễn Hồng Đ có cho bà Mai Thị Diễm T mượn chứng minh thư mang tên Nguyễn Hồng Đ để xác lập hợp đồng lao động và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng tháng 10/2010 đến tháng 02/2012 tại Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H số sổ bảo hiệm xã hội là 8010038633 thời gian từ tháng tháng 10/2010 đến tháng 02/2012. Trong khi đó bà Nguyễn Hồng Đ cũng tham gia lao động và tham gia Bảo hiểm xã hội trên số sổ 801003241 tại Công ty TNHH Vina V.

Nay bà Nguyễn Hồng Đ không được hưởng tiền bảo hiểm của chính mình nên có yêu cầu Tòa án vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Hồng Đ tại Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 02 năm 2012 là có căn cứ. Bởi vì đối tượng lao động thực sự lao động trong giai đoạn này tại Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H là bà Mai Thị Diễm T. sổ Bảo hiểm xã hội số 8010038633 cần điều chỉnh từ tên Nguyễn Hồng Đ thành tên Mai Thị Diễm T là phù hợp.

Bà Mai Thị Diễm T và Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H không có tranh chấp gì trong vụ án này nên không đề cập xem xét.

.Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án: ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Hồng Đ tự nguyện chịu án phí lao động sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 32, Điều 35, Điều 39, Điều 68 Điều 91, Điều 93, Điều 97, Điều 147, Điều 195, Điều 196, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 13, Điều 18, Điều 21 và Điều 49 Bộ luật lao động; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng Đ về việc: “tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội” với Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H.

1.1. Vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Hồng Đ với Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất giày Giai H từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 02 năm 2012.

1.2. Điều chỉnh tên Nguyễn Hồng Đ trên sổ Bảo hiểm xã hội số 8010038633 thành tên Mai Thị Diễm T.

1.3 Bà Nguyễn Hồng Đ và bà Mai Thị Diễm T được quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An để điều chỉnh thay đổi tên từ Nguyễn Hồng Đ trên sổ Bảo hiểm xã hội số 8010038633 thành tên Mai Thị Diễm T.

2.Về án phí lao động sơ thẩm: ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Hồng Đ tự nguyện nộp 300.000 đồng án phí lao động sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí lao động sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0000354 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa). Bà Đ đã nộp đủ án phí.

3. Án xét xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ để xin xét xử phúc thẩm.

4.Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ