- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Công V - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2025/HS-ST Ngày: 30-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Minh Lý.
2. Bà Huỳnh Thị Thuỳ Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết N - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai (bằng hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu: điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần Phòng xét xử trực tuyến Phân trại tạm giam Bình Dương) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Công V, sinh ngày 05-8-1995, tại tỉnh Thanh Hoá; số căn cước công dân: 038095037870, cấp ngày 15-01-2024; nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã T, tỉnh Thanh Hóa); nơi ở hiện tại: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Công G và bà Hoàng Thị N1 (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con. tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ và tạm giam từ ngày 27-5-2025 cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Trương Thị Thanh T, sinh năm 1993; địa chỉ: số B, khu phố P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Công V làm phụ hồ và được giao trong coi vật tư xây dựng công trình tại địa chỉ số B, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).
Do cần tiền tiêu xài nên V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền. Thực hiện ý định trên, khoảng 21 giờ 30 phút ngày 26/5/2025, V từ công trình xây dựng thuộc địa chỉ số B, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) trèo lên giàn giáo, leo qua khung sắt, lên mái tôn nhà kế bên công trình thuộc địa chỉ số B, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) để trộm cắp tài sản. Lúc này, V thấy cửa sổ mở nên V leo từ cửa sổ vào trong nhà, V nhìn thấy một tủ nhựa nên đi đến dùng tay kéo cửa tủ ra thì thấy có 01 (một) hộp trang sức màu vàng có dòng chữ PNJ trên hộp, V mở hộp trang sức ra xem thấy bên trong hộp có 01 (một) lắc tay; 02 (hai) chiếc nhẫn; 01 (một) đôi bông tai có đính đá; 01 (một) vòng cổ, tất cả màu trắng. Sau đó, V lấy hộp PNJ trên rồi leo về lại bên nhà đang xây dựng để cất giấu hộp trang sức vừa lấy cắp được bỏ vào trong ba lô của V được giấu gần nhà vệ sinh của căn nhà đang xây dựng. Trước khi cất giấu, V lấy điện thoại di động của V chụp hình số trang sức vừa trộm được để tìm các cửa hàng PNJ bán.
Sau khi cất giấu hộp trang sức vừa trộm xong, V tiếp tục quay lại lần thứ hai và leo vào nhà vừa lấy trộm tài sản để tìm kiếm thêm tài sản để lấy trộm thì bị lực lượng Công an phường P đang tuần tra phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với V về hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. Sau khi làm việc đối tượng Phạm Công V đã khai nhận toàn bộ hành vi lén lút trộm cắp tài sản của mình.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) lắc tay bằng kim loại màu trắng;
- 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại có đính đá màu trắng;
- 01 (một) vòng đeo cổ bằng kim loại màu trắng;
- 02 (hai) chiếc nhẫn bằng kim loại, trong đó có 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng có đính đá.
Bản Kết luận định giá tài sản số 88/KL-HDĐGTS ngày 05/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự của thành phố T, tỉnh Bình Dương kết luận về giá của tài sản: 01 (một) lắc tay; 02 (hai) chiếc nhẫn; 01 (một) đôi bông tai có đính đá; 01 (một) vòng cổ, tất cả màu trắng mua vào tháng 2/2024 với tổng trị giá 72.050.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trương Thị Thanh T yêu cầu nhận lại tài sản bị mất trộm, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Xử lý vật chứng: Ngày 21/10/2025, Cơ quan điều tra Công an thành phố H đã giao trả 01 (một) lắc tay bằng kim loại màu trắng; 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại có đính đá màu trắng; 01 (một) vòng đeo cổ bằng kim loại màu trắng; 02 (hai) chiếc nhẫn bằng kim loại, trong đó có 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng có đính đá cho bà T.
Cáo trạng số 23/CT – VKSKV15 ngày 20/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Phạm Công V về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Công V, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38, Điều 50, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Công V mức hình phạt từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không
- Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
- Lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Công V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 26/5/2025, tại căn nhà số B, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Phạm Công V đã có hành vi lén lút leo qua cửa sổ vào nhà của bà Trương Thị Thanh T lấy trộm tài sản gồm: 01 (một) hộp trang sức màu vàng có dòng chữ PNJ bên trong hộp có 01 (một) lắc tay; 02 (hai) chiếc nhẫn; 01 (một) đôi bông tai có đính đá; 01 (một) vòng cổ trị giá 72.050.000 đồng (bảy mươi hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, lười lao động mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, đối với bị cáo cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại về tài sản; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Không có.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38, Điều 50, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025);
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Phạm Công V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Công V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/5/2025.
2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra xem xét.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Công V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng hồ sơ - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng THADS Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Phân trại tạm giam Bình Dương- Trại tạm giam số 2, Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - Cổng Thông tin điện tử của TANDTC (nếu có); - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, Tòa. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ái Ngân |