- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hậu - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2023/HSST Ngày: 10/11/2023 |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Sơn Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hùng và ông Nguyễn Huy Hoàn.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Toàn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Anh Hoàng, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 10 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2023/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2023/QĐXX ngày 27/10/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 2004; Giới tính: Nam; ĐKHKTT và ở: Khu đô thị T1, xã T, huyện Đ, thành phố H; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn Phụ, sinh năm 1971; Con bà: Trần Thị Thanh, sinh năm 1972; Vợ con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Danh chỉ bản số 272 lập ngày 17/7/2023 tại Công an huyện Đan Phượng.
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Trần Văn T, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số 32, ngõ 95, đường Hạ Hội, xã T, huyện Đ, Thành phố H; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Công H, sinh năm 1995; Địa chỉ: Cụm 6, xã T, huyện Đ, Thành phố H; vắng mặt.
Anh Phạm Đình N, sinh năm 1991; Địa chỉ: Lai Xá, xã K, huyện H, Thành phố N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 30/5/2023, anh Trần Văn Thành sinh năm 1986, trú tại nhà số 32 ngõ 95 đường Hạ Hội thuộc cụm 6, xã Tân Lập, huyện Đan Phượng đến Công an xã Tân Hội, huyện Đan Phượng trình báo việc: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 29/5/2023, anh có để 01 điện thoại di nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu đen, xám dưới nền nhà tầng 1 thì bị kẻ gian đột nhập vào lấy trộm.
Quá trình kiểm tra, xác minh tố giác, Cơ quan điều tra đã rà soát camera, nhân chứng phát hiện đối tượng Nguyễn Văn H sinh năm 2004, trú tại khu đô thị Tân Tây Đô, xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn. Cơ quan điều tra đã triệu tập H đến làm việc.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn H khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 29/5/2023, H hỏi mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave (không rõ biển kiểm soát) của một nam thanh niên tên Hoàng sinh năm 2000 ở thôn Lai Xá, xã Kim Chung (là bạn cùng chơi game tại quán Internet). Sau đó, H điều khiển xe máy tìm nhà có sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, H đến nhà số 32 ngõ 95 đường Hạ Hội thuộc Cụm 6, xã Tân Lập, huyện Đan Phượng thì phát hiện cửa mở, trong nhà không có ai, quan sát xung quanh không thấy người nên đã lẻn vào nhà lấy trộm 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng và 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu đen xám đang để dưới nền nhà. Sau đó H mang 02 điện thoại đi bán, trên đường đi H tháo sim khỏi 02 điện thoại rồi vứt trên đường. H đến cửa hàng điện thoại số 189 phố Nhổ, phường Phương Canh, Nam Từ Liêm, Hà Nội bán chiếc điện thoại Samsung Galaxy A13 màu đen xám cho anh Trần Công Hoàn sinh năm 1995, trú tại cụm 6, xã Thọ Xuân, huyện Đan Phượng, Hà Nội được 1.200.000 đồng, rồi đi đổ xăng xe hết 70.000 đồng, số tiền 1.130.000 đồng H đánh rơi trên đường. H tiếp tục đến cửa hàng điện thoại tại địa chỉ số 335 thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, Hà Nội bán chiếc điện thoại Iphone 8 plus màu vàng cho anh Phạm Đình Nam sinh năm 1991, trú tại thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức được 2.750.000 đồng, H sử dụng tiền tiêu sài cá nhân hết 1.849.000 đồng. Còn lại số tiền 901.000 đồng. Sau đó bị bắt giữ.
Tài liệu đồ vật thu giữ:
+ Số tiền 901.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn H
+ 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng số Imei 1 358689095352660 Imei2: 35868909535266 do anh Trần Công Hoàn giao nộp cho Cơ quan điều tra.
+ 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu đen xám số Imei 1: 352303782278966, số Imei 2: 358889662278963 do anh Phạm Đình Nam giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Tại kết luận đinh giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 09/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đan Phượng kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng đã qua sử dụng có giá trị 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu đen, xám có giá trị 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng). Tổng giá trị 02 điện thoại trên là 4.100.000 đồng (Bốn triệu một trăm nghìn đồng).
Đối với người tên Hoàng sinh năm 2000, trú tại thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, Hà Nội là người cho H mượn xe máy, Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công an xã Kim Chung, Hoài Đức nhưng không xác định được đối tượng là ai.
Đối với anh Trần Công Hoàn là người mua chiếc điện thoại Samsung Galaxy A13 của H, anh Hoàn không biết điện thoại H bán là tài sản H trộm cắp mà có, khi biết sự việc anh H đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra, Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ. Nguyễn Văn H đã bồi thường anh Trần Công Hoàn số tiền 1.200.000 đồng. Anh Hoàn không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với anh Phạm Đình Nam là người mua chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu xám của H, anh Nam không biết điện thoại H bán là tài sản H trộm cắp mà có, khi biết sự việc anh Nam đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra, Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ. Nguyễn Văn H đã bồi thường anh Phạm Đình Nam số tiền 2.750.000 đồng. Anh Nam không có yêu cầu đề nghị gì.
Về dân sự: Ngày 12/3/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh Trần Văn Thành 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng số Imei 1: 358689095352660 Imei 2: 35868909535266; 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu đen xám số Imei 1: 352303782278966, số Imei 2: 358889662278963, anh Thành đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu đề nghị gì.
Tại Bản cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 14/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, TP Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án. Do bị cáo không có công việc ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Biện pháp tư pháp: Trả lại bị cáo số tiền 901.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đan Phượng, TP Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, TP Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 50 ngày 29/5/2023, Nguyễn Văn H đi đến nhà số 32 ngõ 95 đường Hạ Hội thuộc cụm 6, xã Tân Lập, huyện Đan Phượng thấy nhà không khóa cửa cổng, trong nhà không thấy người nên H vào nhà lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu xám có tổng trị giá 4.100.000 đồng để ở sàn nhà, mang bán lấy tiền tiêu sài cá nhân.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, xâm hại tới đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng chống các tệ nạn xã hội mà còn là nguyên nhân của các tội phạm khác, ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình và bản thân, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã khắc phục bồi thường cho những người liên quan nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo không có tiền án tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên Toà bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo và có nơi cư trú rõ ràng, có các tình tiết giảm nhẹ như đã viện dẫn ở trên. Do đó, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.
Xét bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Đối với số tiền 901.000 đồng thu của bị cáo, xét thấy bị hại đã nhận lại tài sản, bị cáo đã khắc phục bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hoàn, anh Nam nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo số tiền 901.000 đồng.
Về dân sự: không
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo dõi, giám sát trong thời gian thử thách của Bản án. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự; trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 901.000 đồng theo Ủy nhiệm chi lập ngày 10/11/2023 của Công an huyện Đan Phượng.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |