vanban.org

Bản án 117/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 14/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”

Xử phạt bị cáo Phạm Hoài N 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 15/02/2023. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Th 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 15/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 117/2023/HS-ST Tuyên án 14/08/2023
Phúc thẩm Bản án 115/2023/HSPT Tuyên án 04/12/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hoài N và đồng phạm phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2023/HS-ST
Ngày 14/8/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cƣờng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bạch Gƣơng

2. Ông Trịnh Văn Đăng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên toà: Ông Đặng Quang N - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2023/QĐST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Phạm Hoài N , sinh ngày 09/8/1993; tại tỉnh Thái Bình; trú tại: Khu phố Tân H , phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt N ; Cha là Phạm Trung Ngh và mẹ là Đào Thị N g; có vợ là Nguyễn Thị Kim Ánh (đã ly hôn), có 01 con chung sinh năm 2017; hiện bị cáo đang sống chung như vợ chồng với Đinh Thị Hồng Nh , có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 15/02/2023, tạm giam ngày 24/02/2023 cho đến nay ( Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu - Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Phạm Ngọc Th , sinh ngày 13/4/2002; tại tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; trú tại: Số 198/2/11 đường Lưu Chí H , phường A, thành phố V tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt N ; Cha là Phạm Ngọc A và mẹ là Nguyễn Thị D ; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 15/02/2023, tạm giam ngày 24/02/2023 cho đến nay (Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu - Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

3. Nguyễn Đình H , sinh ngày 22/01/2001; tại tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; trú tại: Khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt N ; Cha là Nguyễn Đình Ph và mẹ là Phạm Thị H ; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 15/02/2023, tạm giam ngày 24/02/2023 cho đến nay ( Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu - Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Lê Thị Kiều Tr , sinh năm 2002; Hộ khẩu thường trú: Thôn Văn L , xã Đại Đ , huyện Thanh C , tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Tổ 17, khu phố M, phường M, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu (vắng mặt).

- Chị Thị Yến Nh , sinh năm 2001; Hộ khẩu thường trú: ấp B, xã M, huyện B, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu (vắng mặt).

- Anh Nguyễn Thế Đ , sinh năm 2005; Hộ khẩu thường trú: Khu 3, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở: Tổ 9, đường số 3, khu phố T, thi xã P, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu (vắng mặt).

- Bà Phạm Thị H , sinh năm 1976; địa chỉ: Khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 14/02/2023 Nguyễn Đình H đến quán game của Phạm Hoài N tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu chơi. Do N còn một ít ma túy dạng khay và buồn chuyện gia đình nên N đã nảy sinh ý định và rủ H đem ma túy đến nhà của Phạm Ngọc Th tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, H đồng ý. H gọi điện thoại cho Th theo yêu cầu của N để tổ chức sử dụng ma túy thì Th đồng ý. Qua trao đổi bằng điện thoại N , Th , H thống nhất mua 04 viên ma túy với giá 1.200.000đ, số tiền này chia đều mỗi người phải chịu 400.000đ, N ứng tiền ra trước sau này Th và H sẽ trả lại sau. Sau khi thống nhất, Th gọi điện thoại rủ Nguyễn Thế Đ , Thị Yến Nh buổi tối đến nhà Th cho sử dụng trái phép chất ma túy, Đ và Nh đồng ý. N thông qua ứng dụng Zalo đã gọi điện thoại cho người đàn ông có tài khoản Zalo là Trần Phạm Ngọc Bảo mua trái phép 04 viên thuốc lắc với giá 1.200.000 đ. Sau khi mua được ma túy, N lấy số ma túy khay còn lại trước đó và 04 viên ma túy vừa mua cuộn tròn trong khẩu Tr đưa cho H cất giấu trong hộc tủ nhà N . H gọi điện rủ thêm Lê Thị Kiều Tr đến nhà Th cho sử dụng ma túy, Tr đồng ý. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày 14/2/2023 H điều khiển xe máy biển số 72E1- 772.67 ( xe của mẹ là bà Phạm Thị H ) chở N , Tr và mang theo ma túy mà N đã mua đến nhà Phạm Ngọc Th tại tổ 13, khu phố Vạn Hanh, phường Phú Mỹ, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Th dẫn H , N , Tr vào phòng ngủ của Th rồi lấy ra 01 đĩa sứ màu trắng, một thẻ nhựa ngân hàng màu đen mang tên LE TAN H , 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ, 01 hộp quẹt lửa màu hồng. N lấy ra 04 viên ma túy thuốc lắc, 01 gói ma túy khay đặt trong đĩa sứ màu trắng, H bỏ tờ tiền mệnh giá 10.000đ dùng làm ống hút. N lấy 01 viên ma túy thuốc lắc bẻ làm 02 phần và sử dụng một phần, phần còn lại đưa cho Tr sử dụng. Th lấy 01 viên ma túy thuốc lắc bẻ làm hai phần và sử dụng một phần, phần còn lại Th bỏ vào trong đĩa sứ, sau đó H lấy phần ma túy còn lại này sử dụng hết. N tiếp tục lấy gói ma túy khay đổ lên trên tờ tiền giấy mệnh giá 1.000đ, sử dụng quẹt lửa hơ dưới đáy tờ tiền để nấu ma túy khay. Nấu xong, N đổ vào đĩa sứ trắng và dùng thẻ ngân hàng để cà mịn số ma túy khay, sau đó kẻ 02 đường khay và sử dụng hết; Th cầm đĩa sứ lên kẻ 01 đường khay và sử dụng hết; H lấy lên kẻ 03 đường khay và sử dụng hết 02 đường; Tr cầm đĩa sứ lên sử dụng 01 đường khay mà H đã kẻ. Sau đó N , Th , H và Tr ngồi nghe nhạc,

Đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, do được Th rủ nên Nguyễn Thế Đ , Thị Yến Nh đến nhà Th để sử dụng ma túy. Thấy ma túy để sẵn, Đ cầm lên 01 viên ma túy bẻ làm hai phần, sử dụng một phần, phần còn lại để trên đĩa sứ, đồng thời kẻ thêm 01 đường khay và sử dụng. Nh cầm lấy một phần viên thuốc lắc mà Đ vừa bẻ sử dụng hết. Thấy trên đĩa sứ còn lại 01 viên thuốc lắc, sợ bị ngấm nước nên Th bỏ viên ma túy vào trong 01 lọ nhựa màu đỏ. Nh thấy vậy lấy lại viên thuốc lắc ở trong lọ nhựa ra rồi cho vào miệng cắn một phần, phần còn lại bỏ lại vào lọ nhựa. Đến 00 giờ 30 phút ngày 15/02/2023 khi cả nhóm đang nghe nhạc thị bị lực lượng Công an thị xã Phú Mỹ phối hợp với Công an phường phú Mỹ tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 đĩa sứ màu trắng, trong lòng đĩa sứ có chứa chất bột mịn màu trắng, 01 lọ nhựa màu đỏ có dòng chữ Play, bên trong có 01 viên nén không rõ hình dạng, màu xám; 01 thẻ nhựa ngân hàng màu đen mang tên Le Tan H ; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ; 01 hộp quyẹt lửa màu hồng; 01 bộ loa màu đen có dòng chữ KBEATBOX; 01 đèn nháy màu đen; 01 ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000đ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím; 01 điện thoại di động Samsung, màu vàng; 01 điện thoại di động Samsung màu xanh đen; 01 điện thoại Iphone màu hồng và số tiền 150.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số: 82/KL-KTHS-MT ngày 24/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu kết luận:

+ Mẫu cần giám định: 01 phong bì màu trắng (số thứ tự 01), có hình dấu của Công an phường Phú Mỹ - CATX Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Trịnh Minh C , Văn Công A, Đặng Văn T, Nguyễn Thế Đ , Thị Yến Nh , Nguyễn Đình H , Phạm Hoài N , Lê Thị Kiều Tr , Phạm Ngọc Th , bên trong có 01 đĩa sứ màu trắng chứa chất bột màu trắng (ký hiệu A1), kết luận: Khối lượng 0,1292 gam ma túy, loại Ketamine.

+ Mẫu cần giám định: 01 phong bì màu trắng (số thứ tự 01), có hình dấu của Công an phường Phú Mỹ - CATX Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Trịnh Minh C , Văn Công A, Đặng Văn T , Nguyễn Thế Đ , Thị Yến Nh , Nguyễn Đình H , Phạm Hoài N , Lê Thị Kiều Tr , Phạm Ngọc Th , bên trong có 01 mẫu viên nén màu xám (ký hiệu A2), kết luận: Khối lượng 0,0622 gam, là ma túy, loại MDMA

Bản Cáo trạng số: 117/CT-VKS ngày 12 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố theo như bản cáo trạng và phát biểu luận tội, phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, hậu quả do hành vi phạm tội các bị cáo đã gây ra; đặc điểm nhân thân của các bị cáo, vụ án có đồng phạm giản đơn, bị cáo N là người rủ rê, khởi xướng nên có vài trò chính trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo các Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” đề nghị áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H từ 07 đến 08 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong vụ số 82/1 và 82/2 ngày 24/2/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh bà Rịa –Vũng Tàu; Thẻ nhựa ATM ngân hàng Techcombank; 01 bật lửa màu hồng; 01 đèn chiếu sáng nhấp nháy; 01 loa màu đen có dòng chữ Kbeatbox.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Tờ tiền mệnh giá 1.000đ (một ngàn đồng); một điện thoại di động có dòng chữ Iphone; một ống hút tự chế cuộn bằng tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000đ; số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng); một điện thoại di động có dòng chữ Iphone, màu vàng hồng; 01 điện thoại di động có dòng chữ Samsung, màu vàng, số Imel: 354262/80/091478/8.

+ Hoàn trả cho bị cáo Lê Hoài N : 01 điện thoại di động có dòng chữ Samsung, màu xanh đen, không tìm thấy số Imel.

Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H thừa nhận hành vi phạm tội và không tranh luận gì chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 14/02/2023 tại phòng ngủ của Phạm Ngọc Th thuộc tổ 13, khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu các bị cáo Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H bàn bạc và đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo còn cho Lê Thị Kiều Tr , Thị Yến Nhanh, Nguyễn Thế Đ sử dụng trái phép chất ma túy. Riêng Nguyễn Thế Đ sinh ngày 14/8/2005, lúc này Đ mới 17 tuổi 06 tháng chưa đủ 18 tuổi.

Hành vi của các bị cáo Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và cho 03 người là Trang, Nhanh, Đ sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó có Đ chưa đủ 18 tuổi. Với hành vi này các bị cáo đã phạm vào tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H nêu trên là rất nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được tác hại to lớn của ma túy đối với sức khỏe con người và những ảnh hưởng tiêu cực mà ma túy gây ra cho mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội, n H vì nghiện ma tuý mà vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của pháp để chứa chấp, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho 03 người, trong đó có 01 người chưa đủ 18 tuổi. Đối với các bị cáo cần phải xử lý nghiêm tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã gây ra, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.

Vụ án có đồng phạm n H không có sự phân công chặt chẽ, cần xét vai trò của các bị cáo khi lượng hình: Đối với bị cáo Phạm Hoài N là người khởi xướng, rủ rê, điều hành và cũng là người trực tiếp mua ma tuý về để tổ chức sử dụng nên bị cáo có vai trò chính, khi xét xử bị cáo có mức hình phạt cao hơn so với các bị cáo khác; Đối với bị cáo Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H là đồng phạm tham gia một cách tích cực nên các bị cáo có vài trò thứ hai, khi xét xử hai bị cáo này có mức hình phạt thấp hơn so với bị cáo N .

Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra các bị cáo đều có nhân thân tốt cũng được Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H hiện không có nghề nghiệp ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với 0,1292gam ma túy loại Ketamine và 0,0622 gam ma túy loại MDMA. Tỷ lệ phần trăm khối lượng Ketamine so với tối thiểu chất này quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là: (0,1292:1) x 100% =12,92%; tỷ lệ phần trăm khổi lượng MDMA so với mức tối thiểu chất này quy định tại diểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là: (0,0622: 0,1) x 100% = 62,2%. Tổng tỷ lệ phần trăm là 12,92% + 62,2% = 72,12%. Như vậy, không đủ định lượng để xử lý Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đối tượng có tài khoản Zalo Trần Phạm Quốc B bán ma tuý cho bị cáo N hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý, khi nào bắt được xử lý sau.

Đối với Nguyễn Thế Đ , Thị Yến Nh , Lê Thị Kiều Tr không có bàn bạc trước với các bị cáo Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, không góp tiền mua ma túy, chỉ tham gia vào việc sử dụng trái phép chất túy. Vì vậy, không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ , Nhanh, Tr nên cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với Đ , Nhanh, Tr là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

Chiếc xe biển số 72E1 – 772.67 bị cáo H do mượn của mẹ là bà Phạm Thị Hương, bà Hương không biết việc H mượn để sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho bà Hương là có căn cứ.

Đối với 02 phong bì niêm phong vụ số 82/1 và 82/2 ngày 24/2/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu bên trong có chứa chất ma túy, đây là chất cấm lưu hành. Thẻ nhựa ATM ngân hàng Techcombank mang tên Le Tan Hung do bị cáo Th nhặt được ngoài đường không còn giá trị sử dụng; 01 bật lửa màu hồng không có giá trị sử dụng; 01 đèn chiếu sáng nhấp nháy, màu đen, có chữ Party Lights không còn hoạt động được; 01 loa màu đen có dòng chữ Kbeatbox, loa đã cũ và không hoạt động nên cần tịch thu tiêu hủy những vật chứng này.

Đối với tờ tiền mệnh giá 1.000đ, một Iphone màu tím của bị cáo Th ; ống hút tự chế cuộn bằng tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000đ, số tiền 150.000 đ, 01 Iphone màu vàng hồng của bị cáo H ; 01 điện thoại Samsung màu vàng của bị cáo N ; các vật chứng này dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại Samsung màu xanh đen của bị cáo N không sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo N .

Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ truy tố các bị cáo Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H phạm vào tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Về án phí: Các bị cáo Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Tuyên bố các bị cáo Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”

+ Xử phạt bị cáo Phạm Hoài N 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 15/02/2023.

+ Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Th 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 15/02/2023.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 15/02/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong vụ số 82/1 và 82/2 ngày 24/2/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh bà Rịa –Vũng Tàu; Thẻ nhựa ATM ngân hàng Techcombank màu đen mang tên Le Tan H ; 01 bật lửa màu hồng; 01 đèn chiếu sáng nhấp nháy, màu đen, có chữ Party Lights; 01 loa màu đen có dòng chữ Kbeatbox.

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Tờ tiền mệnh giá 1.000đ (một ngàn đồng); một điện thoại di động có dòng chữ Iphone, màu tím, không tìm thấy số Imel; một ống hút tự chế cuộn bằng tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000đ; số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng); một điện thoại di động có dòng chữ Iphone, màu vàng hồng, không tìm thấy số Imel; 01 điện thoại di động có dòng chữ Samsung, màu vàng, số Imel: 354262/80/091478/8.

+ Hoàn trả cho bị cáo Lê Hoài N : 01 điện thoại di động có dòng chữ Samsung, màu xanh đen, không tìm thấy số Imel.

Đặc điểm vật chứng được thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 112/BB-CCTHADS ngày 17/7/2023 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ. Riêng số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng) được thể hiện theo biên lai thu tiền số 0002181 ngày 17/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu.

3. Về án phí: Buộc các bị cáo Phạm Hoài N , Phạm Ngọc Th , Nguyễn Đình H mỗi bị phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/8/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ