vanban.org

Bản án 117/2022/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 16/11/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Kiều T, Hoàng Hồng N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều T 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 22/02/2022. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Hồng N 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Kiều T và Hoàng Hồng N phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Kiều T, Hoàng Hồng N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2022/HS-PT
Ngày: 16/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trọng Danh

Các Thẩm phán:

Ông Phan Vĩnh Chuyển

Bà Dương Thị Hồng Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Từ Văn Hoàng Lĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2022, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử trực tuyến tại 02 điểm cầu (Điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử hình sự, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng; Điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng) để xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 102/2022/TLPT-HS ngày 06 tháng 10 năm 2022 đối với các bị cáo Nguyễn Thị Kiều T và Hoàng Hồng N do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2022/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Bị cáo kháng cáo:

1/ NGUYỄN THỊ KIỀU T, sinh năm 19xx tại tỉnh Quảng Nam; Nơi ĐKNKTT: Thôn KT, xã TT, huyện P, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: Kxx/x Lê Đình Lý, phường V, quận K, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Khưu Thị B. Có 01 con sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 22/02/2022, hiện đang bị tạm giam. Có mặt.

2/ HOÀNG HỒNG N, sinh năm 1998 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT: Tổ xx, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Chổ ở hiện nay: xx Chế Lan Viên, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Minh S và bà Phạm Thị Ngọc L. Có 01 con sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.

* Tham gia tại điểm cầu trung tâm (Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng) gồm có: Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, Thư ký phiên tòa và bị cáo Hoàng Hồng N.

* Tham gia tại điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng) gồm có:

- Bị cáo: Nguyễn Thị Kiều T.

- Các cán bộ, chiến sỹ của Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng:

1/ Ông Trần Hữu Huy, chức vụ: cán bộ;

2/ Ông Nguyễn Văn Chiến, chức vụ: cán bộ;

* Trong vụ án còn có các bị cáo Tưởng Nhật H, Nguyễn Văn N1, Trần Viết T1 nhưng các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 04/12/2021, Nguyễn Thị Kiều T, Tưởng Nhật H, Nguyễn Văn N1, Hoàng Hồng N, Trần Viết T1 cùng ngồi ăn uống tại phòng trọ của T tại địa chỉ số xx/x Lê Đình Lý, phường TG, quận K thì T rủ cả nhóm mua ma túy về sử dụng, cả nhóm đồng ý và thống nhất sử dụng ma túy xong sẽ chia đều cho mỗi người góp tiền lại sau. Nguyễn Văn N1 rủ cả nhóm đến phòng Axx-xx chung cư Hoàng Anh Gia Lai, số xx Hàm Nghi, phường TG, quận K do N1 thuê để sử dụng ma túy. Tại đây, H liên lạc cho người đàn ông tên Khoa (không rõ nhân thân lai lịch) mua nợ 03 viên ma túy thuốc lắc với giá là 350.000 đồng/01 viên và 01 gói ma túy khay với giá 1.800.000 đồng giao dịch trước chung cư Hoàng Anh Gia Lai. Sau đó, H mang ma túy lên phòng Axx-xx rồi để 03 viên ma túy thuốc lắc trên giường cho cả nhóm sử dụng. H lấy ma túy khay bỏ vào đĩa sứ màu trắng, dùng thẻ nhựa xào ma túy khay và dùng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn lại làm ống hút cho cả nhóm sử dụng ma túy khay, số ma túy còn lại để trên giường. Cả nhóm sử dụng ma túy đến khoảng 01 giờ 15 phút ngày 05/12/2021 thì bị Công an phường Thạc Gián, quận Thanh Khê kiểm tra hành chính, phát hiện lập biên bản sự việc, thu giữ 0,07 gam ma tuý loại MDMA và 0,26 gam ma tuý loại Ketamine cùng các tang vật khác có liên quan.

Với nội dung nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 94/2022/HS-ST ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Kiều T, Tưởng Nhật H, Nguyễn Văn N1, Trần Viết T1 và Hoàng Hồng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều T: 08 (tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 22/02/2022.

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Hồng N: 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về phần hình phạt đối với các bị cáo Tưởng Nhật H, Nguyễn Văn N1, Trần Viết T1, phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo bản án.

Ngày 05/9/2022, bị cáo Nguyễn Thị Kiều T có đơn kháng cáo với nội dung: Mức án cấp sơ thẩm xử phạt là quá nặng, xin cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngày 09/9/2022, bị cáo Hoàng Hồng N có đơn kháng cáo với nội dung: Bị cáo hiện đang bị bệnh hiểm nghèo, gia đình khó khăn, xin cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Kiều T và Hoàng Hồng N trong thời hạn kháng cáo, nên đảm bảo hợp lệ.

Về nội dung kháng cáo: Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2022/HS-ST ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xét xử các bị cáo T và N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi lượng hình, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kiều T 08 năm tù, xử phạt bị cáo Hoàng Hồng N 07 năm tù là có căn cứ, không nặng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Kiều T không có tình tiết giảm nhẹ gì mới, bị cáo Hoàng Hồng N bổ sung thêm tài liệu chứng cứ thể hiện bị cáo đang điều trị u tuyến giáp. Tuy nhiên bệnh án của bị cáo thể hiện sau khi phẫu thuật thì tình trạng hiện này là tạm ổn nên không thuộc trường hợp có bệnh hiểm nghèo theo quy định của pháp luật. Xét thấy mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp, do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các bị cáo Nguyễn Thị Kiều T, Hoàng Hồng N thừa nhận hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã kết luận, giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, cho rằng mức hình phạt cấp sơ thẩm xử phạt là quá nặng, vì vậy các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị Kiều T và Hoàng Hồng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 23 giờ ngày 04/12/2021, Nguyễn Thị Kiều T, Tưởng Nhật H, Nguyễn Văn N1, Hoàng Hồng N, Trần Viết T1 cùng ngồi ăn uống tại phòng trọ của T tại số xx/x Lê Đình Lý, phường TG, quận K thì T rủ cả nhóm mua ma tuý về sử dụng. Cả nhóm đồng ý và thống nhất sử dụng ma tuý xong sẽ chia đều cho mỗi người góp tiền lại sau. Nguyễn Văn N1 rủ cả nhóm đến phòng Axx-xx chung cư Hoàng Anh Gia Lai, số xx Hàm Nghi, phường TG, quận K do N1 thuê để sử dụng ma tuý. Tại đây, H liên lạc cho người đàn ông tên Khoa (không rõ nhân thân lai lịch) mua 03 viên ma tuý thuốc lắc và 01 gói ma tuý khay sau đó mang lên phòng cho cả nhóm sử dụng. Cả nhóm sử dụng ma tuý đến khoảng 01 giờ 15 phút ngày 05/12/2021 thì bị Công an phường Thạc Gián, quận Thanh Khê kiểm tra hành chính, phát hiện lập biên bản sự việc và thu giữ 0,07 gam ma tuý loại MDMA và 0,26 gam ma tuý loại Ketamine mà các bị cáo chưa sử dụng hết, cùng tang vật khác có liên quan.

Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2022/HS-ST ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xét xử các bị cáo Nguyễn Thị Kiều T và Hoàng Hồng N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Kiều T, Hoàng Hồng N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Mặc dù các bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, cũng hiểu rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây nên những hậu quả nghiêm trọng, là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác và việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự, sẽ bị xử phạt nghiêm khắc nhưng các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, đối với các bị cáo cần xử lý nghiêm, đảm bảo tính răn đe của pháp luật đối với các bị cáo, qua đó giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội, vai trò của từng bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như đã xem xét nhân thân của các bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo khi lượng hình. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Kiều T không có tình tiết giảm nhẹ nào mới phát sinh, bị cáo Hoàng Hồng N bổ sung tài liệu chứng cứ thể hiện bị cáo đang điều trị bệnh u tuyến giáp. Tuy nhiên, hồ sơ bệnh án của bị cáo thể hiện tình trạng bệnh của bị cáo là “Thể nhú”, chưa biến chứng, sau khi phẫu thuật đã tạm ổn, do đó không thuộc trường hợp bệnh hiểm nghèo theo quy định pháp luật. Xét mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị Kiều T, Hoàng Hồng N là có căn cứ, không nặng. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Kiều T và Hoàng Hồng N, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Kiều T, Hoàng Hồng N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều T 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 22/02/2022.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Hồng N 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Thị Kiều T, Hoàng Hồng N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ