vanban.org

Bản án 116/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 07/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Tr phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Xử phạt bị cáo Lê Thị Tr 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Th i gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 07/8/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ THỊ TR - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116 /2023/HS-ST
Ngày: 07 - 8 -2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Ngọc Dũng;

2/ Ông Võ Văn Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 07 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2023/QĐXXST-HS ngày 26/7/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thị Tr, sinh năm 1991 tại tỉnh Bình Dương. Nơi ĐKHKTT: khu phố 6, phư ng P, thành phố T, tỉnh B; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Buôn bán; dân tộc: Kinh; giới tính: N ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B và bà Võ Thị T; bị cáo c ch ng (đã ly hôn) và 02 ngư i con; tiền án, tiền sự: Không, bị cáo tại ngoại, có mặt.

Bị hại: Bà Nguyễn Thanh N, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ 4, khu phố B, phư ng T, thành phố T, tỉnh B; vắng mặt.

Người àm ch ng: Ông Ngô Minh H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu c trong h sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Lê Thị Tr và anh Ngô Minh H có mối quan hệ là vợ ch ng, kết hôn năm 2009. Do Tr biết anh H c quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thanh N nên Tr nhiều lần mắng chửi chị N. Trong khoảng th i gian từ ngày 26/02/2019 đến ngày 02/5/2019, Tr đã 02 lần thực hiện hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của chị N, cụ thể như sau:

1. Lần thứ nhất: Khoảng 16 gi 30 phút ngày 26/02/2019, Lê Thị Tr đến quán cà phê H Coi, tọa lạc tại khu phố 3, phư ng C, thành phố T, tỉnh B (quán cà phê do Tr và anh H làm chủ) thì gặp chị N và anh H. Tại đây, gi a Tr và chị N cự cãi với nhau nên Tr bực tức dùng tay đánh vào mặt chị N 01 cái thì chị N bỏ đi. Lúc này, Tr nhìn thấy xe ô tô hiệu Spark, màu trắng, biển số 61D-007.94 của chị N đang đỗ trước quán H Coi nên Tr dùng đá nhặt được trong quán cà phê H Coi đập vào Capo xe và ném vỡ kính bên trái (bên tài xế) xe ô tô hiệu Spark, biển số 61D-007.94 của chị N r i Tr bỏ đi. Sau khi bị Tr đập phá làm hư hỏng xe ô tô, chị N đến Công an phư ng Chánh Nghĩa trình báo sự việc và làm đơn tố giác hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của Tr đối với xe ô tô hiệu Spark, biển số 61D-007.94 của chị N. Sau đ , Công an phư ng Chánh Nghĩa lập h sơ vụ việc và chuyển giao h sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một để thụ lý xác minh và giải quyết theo thẩm quyền.

Bản kết luận định giá tài sản số 116/KLTS-TTHS ngày 19/4/2019 của Hội đ ng định giá thư ng xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một kết luận: thay kính cửa trước và sửa ch a Capo xe ô tô hiệu Spark, màu trắng, biển số 61D-007.94, trị giá 3.711.000 đ ng.

2. Lần thứ hai: Khoảng 20 gi ngày 02/5/2019, trong lúc Lê Thị Tr điều khiển xe ô tô biển số 61C-342.20 lưu thông trên đư ng H, đoạn qua khu phố 3, phư ng C, thành phố T, tỉnh B thì nhìn thấy anh Ngô Minh H đang điều khiển xe ô tô hiệu Spark, màu trắng, biển số 61D-007.94 chở chị N từ quán cà phê H Coi đi ra đư ng H nên Tr bực tức điều khiển xe ô tô biển số 61C-342.20 của Tr chạy theo chặn xe ô tô của anh H để n i chuyện với anh H và chị N. Tiếp đ , do thấy anh H điều khiển xe ô tô hiệu Spark, biển số 61D-007.94 bỏ đi nên Tr điều khiển xe ô tô biển số 61C-342.20 của Tr tông vào xe ô tô hiệu Spark, biển số 61D-007.94 của chị N làm hư hỏng phần cửa trước và hông bên trái xe ô tô hiệu Spark, màu trắng, biển số 61D-007.94. Sau đ , chị N đến Công an phư ng Chánh Nghĩa trình báo sự việc và tiếp tục làm đơn tố giác hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của Tr đối với xe ô tô hiệu Spark, màu trắng, biển số 61D-007.94 của chị N. Công an phư ng Chánh Nghĩa lập h sơ vụ việc và chuyển giao h sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một để thụ lý xác minh và giải quyết theo thẩm quyền.

Bản kết luận định giá tài sản số 193/KLTS-TTHS ngày 11/6/2019 của Hội đ ng định giá thư ng xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một kết luận: Sửa cản trước, sửa Capo, sửa vè trước, sửa cản trước trong và ngoài, sửa lư n, sửa trụ cửa trước, sơn cản trước, sơn Capo, sơn vè trước, sơn cửa trước trong và ngoài, sơn lư n, sơn trụ cửa trước, công thợ sửa ch a xe ô tô hiệu Spark, màu trắng, biển số 61D-007.94 và tiền thuế VAT 10%, tổng trị giá 9.515.000 (chín triệu, năm trăm mư i lăm nghìn) đ ng.

Quá trình điều tra, bị cáo Lê Thị Tr đã b i thư ng toàn bộ số tiền chi phí sửa ch a xe ô tô hiệu Spark, màu trắng, biển số 61D-007.94 cho chị Nguyễn Thanh N. Hiện tại, chị N không c yêu cầu gì khác đối với Lê Thị Tr và làm đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Thị Tr.

Cáo trạng số 130/CT-VKSTDM ngày 14/07/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Lê Thị Tr về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh như Cáo trạng và đề nghị:

a) Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thị Tr mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách 01 năm 06 tháng đến 02 năm.

b) Về biện pháp tư pháp: Không:

c) Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã được b i thư ng tiền và không c yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung bản cáo trạng, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về phần hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo không tranh luận và không tự bào ch a. L i n i sau cùng các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, xin giảm nhẹ hình phạt, hứa cải sửa bản thân và không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngư i tiến hành tố tụng. Do đ các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. L i khai của bị cáo phù hợp với l i khai bị hại, ngư i làm chứng cùng nh ng tài liệu chứng cứ khác c trong h sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng th i gian từ ngày 26/02/2019 đến ngày 02/5/2019, do bực tức việc anh Ngô Minh H (ch ng bị cáo) c mối quan hệ tình cảm yêu thương với chị Nguyễn Thanh N nên bị cáo Lê Thị Tr đã 02 (hai) lần thực hiện hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của bị hại Nguyễn Thanh N, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng 16 gi 30 phút ngày 26/02/2019, tại quán cà phê H Coi, địa chỉ tại khu phố 3, phư ng C, thành phố T, tỉnh B, bị cáo Lê Thị Tr dùng đá đập vào Capo và ném vỡ kính bên trái (bên tài xế) xe ô tô hiệu Spark, màu trắng, biển số 61D-007.94 của bị hại Nguyễn Thanh N làm hư hỏng xe ô tô, trị giá sửa ch a là 3.711.000 đ ng.

- Lần thứ hai: Khoảng 20 gi ngày 02/5/2019, tại đư ng H, đoạn qua khu phố 3, phư ng C, thành phố T, tỉnh B, bị cáo Lê Thị Tr điều khiển xe ô tô biển số 61C-342.20 tông vào phần cửa trước và hông bên trái xe ô tô hiệu Spark, màu trắng, biển số 61D-007.94 của bị hại Nguyễn Thanh N làm hư hỏng xe ô tô, trị giá sửa ch a là 9.515.000 đ ng.

Do đ , hành vi cố ý ném đá và điều kiển xe ô tô tông vào xe ô tô của bị hại N làm cho hư hỏng với tổng giá trị sửa ch a 13.226.000 đ ng do bị cáo Tr thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là c căn cứ, đúng ngư i, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở h u hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì h n ghen cá nhân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do vậy, cần c mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một th i gian để c tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân c ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo c thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện b i thư ng thiệt hại khắc phục hậu quả và bị hại làm đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi 02 con còn nhỏ. Đây là nh ng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo Tr c nhân thân tốt, chưa c tiền án, tiền sự, c nơi cư trú rõ ràng, c nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Hội đ ng xét xử sẽ áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm và Nghị quyết số 01/2022/NQ–HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đ ng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng d n áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo cho bị cáo Tr được hưởng án treo.

Từ nh ng nhận định nêu trên, xét thấy việc Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Tr là phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã b i thư ng toàn bộ chi phí sửa ch a xe ô tô hiệu Spark, màu trắng, biển số 61D-007.94 cho bị hại Nguyễn Thanh N và bị hại N không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe ô tô biển số 61C-342.20 do bị cáo Lê Thị Tr điều khiển dùng để tông vào xe ô tô hiệu Spark, màu trắng, biển số 61D-007.94 làm hư hỏng xe ô tô của N, quá trình điều tra xác định: Xe ô tô trên do anh Ngô Minh H mua nhưng do anh H và Tr là vợ ch ng nên anh H để bị cáo Lê Thị Tr đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe. Sau khi bị cáo Tr có hành vi làm hư hỏng xe ô tô của chị N thì anh H và bị cáo Tr đã làm thủ tục ly hôn nên anh H và bị cáo Tr đã bán xe ô tô trên cho ngư i nam (hiện chưa rõ họ tên và địa chỉ cư trú) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một không thu h i được nên không đặt ra.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào

- Các Điều 136, 260, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng d n áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết 01/2022/NQ–HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng d n áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Tr phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Lê Thị Tr 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Th i gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 07/8/2023).

- Giao bị cáo Lê Thị Tr cho Ủy ban nhân dân phư ng P, thành phố T giám sát, giáo dục bị cáo trong th i gian thử thách.

Trư ng hợp ngư i được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong th i gian thử thách, nếu bị cáo Lê Thị Tr cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án c thể quyết định buộc ngư i được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

2. Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ