vanban.org

Bản án 116/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 10/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Văn T và Võ Minh Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2023. Xử phạt bị cáo Võ Minh Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Văn T và Võ Minh Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Văn T và Võ Minh Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2023/HS-ST
Ngày: 10 - 7 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU- TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Trung Chiến.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bình

Bà Nguyễn Ngọc Cúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quyết Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Huỳnh Văn T, sinh ngày 18/7/1996; tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố 5, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Lớp 03/12; Họ tên cha: Huỳnh Văn H, sinh năm 1953; Họ tên mẹ: Kim P (đã chết); Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; có vợ tên Nguyễn Thị Cẩm H1, sinh năm 2001 và có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 12/3/2023, chuyển tạm giam ngày 21/3/2023 theo Lệnh số: 499/LTG của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Cửu.

2. Họ và tên: Võ Minh Đ, sinh ngày 22/12/2001; tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Họ tên cha: Võ Văn M, sinh năm 1963; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Út M1, sinh năm 1967; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ tên Đậu Thị Hải Y, sinh năm 2002 và có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/02/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 12/3/2023, chuyển tạm giam ngày 21/3/2023 theo Lệnh số: 498/LTG của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Cửu.

(Bị cáo có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Văn T là đối tượng nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 18 giờ ngày 11/3/2023, Tiến sử dụng điện thoại di động Mobistar YUNA 1 gắn thuê bao 0867.57.44.50 của T gọi vào số thuê bao 0366.870.426 của đối tượng tên thường gọi là B (không rõ tên thật, địa chỉ) hỏi mua thiếu 200.000 đồng ma túy đá và mượn một bộ dụng cụ sử dụng ma túy thì B đồng ý và hẹn giao nhận ma túy tại khu vực Cầu Mới thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, T đến tiệm sửa xe của Võ Minh Đ tại ấp Bình Ý, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai chơi và rủ Đoàn góp mỗi người 100.000 đồng mua ma túy về sử dụng, Đ đồng ý nhưng nói T ứng tiền trả trước, Đ trả lại sau. Sau đó, T mượn xe mô tô Honda Click biển số 60Z7-6894 của Đ điều khiển đến khu vực Cầu Mới thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa gặp B lấy 01 bịch ma túy và 01 tẩu thủy tinh mang về tiệm sửa xe của Đ. Lúc này, T lấy 01 chai nhựa nhãn hiệu Sting có sẵn trong quán gắn tẩu thủy tinh vào rồi đổ hết số ma túy vừa mua vào tẩu, dùng bật lửa đốt nóng ma túy rồi cùng Đ thay nhau sử dụng. Sử dụng ma túy xong, T cất bộ dụng cụ vào nhà vệ sinh rồi đi ngủ còn Đ về nhà mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Út M1 gần đó ngủ.

Đến khoảng 04 giờ ngày 12/3/2023, Công an xã Tân Bình kiểm tra hành chính tiệm sửa xe của Đ phát hiện trong nhà vệ sinh có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa nhãn hiệu Sting và 01 tẩu thủy tinh nên mời T về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Công an, T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Vào lúc 06 giờ 30 phút ngày 12/3/2023, Võ Minh Đ đến Công an xã Tân Bình đầu thú về hành vi cùng Huỳnh Văn T Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 11/3/2023.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu: Võ Minh Đ và Huỳnh Văn T dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

+ Tang vật, tài sản tạm giữ:

- Thu của Huỳnh Văn T: 01 điện thoại di động Mobistar YUNA 1;

- Thu tại nhà vệ sinh tại tiệm sửa xe của Đ: 01 chai nhựa nhãn hiệu Sting; 01 tẩu thủy tinh trên thành có bám chất màu trắng (niêm phong theo quy định - ký hiệu M1).

- Thu trên kệ gỗ trong phòng ngủ của Võ Minh Đ: 01 tẩu thủy tinh bên trong chứa tinh thể màu trắng (niêm phong theo quy định – Ký hiệu M2).

- Đối với xe mô tô biển số 60Z7-6894 do Nguyễn Thị Út M, sinh năm 1967 (mẹ ruột của Võ Minh Đ) ngụ ấp Bình Ý, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Ngày 11/3/2023 Đ cho T mượn xe mô tô trên đi mua ma túy bà M không biết nên không thu giữ xe.

+ Tại Kết luận giám định chất ma túy số: 496/KL-KTHS ngày 17/3/2023 của Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) bám dính bên trong tẩu thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,0106 gam, loại Methamphetamine.

- Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) bám dính bên trong tẩu thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,0297 gam, loại Methamphetamine.

Hoàn lại đối tượng giám định: Không hoàn lại mẫu vật gửi giám định, mẫu vật đã sử dụng hết trong công tác giám định. Toàn bộ đối tượng giám định được hoàn lại trong niêm phong số: 496-M1/KL - KTHS, 496-M2/KL - KTHS.

Tại phiên tòa bị cáo, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa không ai có ý kiến gì đối với kết luận giám định.

+ Xử lý tang vật, tài sản tạm giữ:

Đối với 01 tẩu thủy tinh niêm phong số: 496-M2/KTHS, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển kèm theo Quyết định xử lý hành chính Võ Minh Đ.

Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 tẩu thủy tinh trong niêm phong số: 496-M1/KL-KTHS, 01 chai nhựa nhãn hiệu Sting.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Mobistar YUNA 1 sử dụng vào mục đích phạm tội.

Đối với đối tượng B bán trái phép ma túy cho Huỳnh Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, tra cứu thông tin số thuê bao 0366.870.426 nhưng chưa có kết quả. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu tiếp tục xác minh xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với hành vi tàng trữ 0,0106 gam ma túy, loại Methamphetamine của Huỳnh Văn T và hành vi tàng trữ 0,0297 gam ma túy, loại Methamphetamine của Võ Minh Đ, do Đ và T chưa có tiền án, tiền sự về các tội liên quan đến ma túy nên hành vi không cấu thành tội phạm. Công an huyện Vĩnh Cửu ra quyết định xử lý hành chính là đúng quy định pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 128/CT-VKSVC ngày 22/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Huỳnh Văn T và Võ Minh Đ xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

- Xử phạt bị cáo Võ Minh Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

- Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra, thể hiện:

Khoảng 18 giờ ngày 11/03/2023 tại ấp Bình Ý, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Huỳnh Văn T và Võ Minh Đ cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Huỳnh Văn T khởi xướng, rủ rê, mua ma túy bỏ vào nỏ đốt nóng cho bản thân và Võ Minh Đ sử dụng.

Võ Minh Đ thống nhất góp tiền, sử dụng địa điểm do mình quản lý cùng T sử dụng ma túy.

. Do vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, hiểu rất rõ tác hại của chất ma túy nhưng bị cáo bất chấp quy định của pháp luật đã thực hiện hành vi phạm tội, đây là nguyên nhân, mầm mống lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, đồng thời cũng là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác. Đối với bị cáo Đ bản thân bị cáo đã bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo không lấy đó để tự răn đe mà tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần có mức án nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội. Trong vụ án này vai trò của bị cáo T cao hơn là người rủ rê bị cáo Đ áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự để phân hóa vai trò trong đồng phạm. Vì vậy bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Đ.

. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo T phạm tội lần đầu, các bị cáo đầu thú, các bị cáo đều là lao động chính, có con nhỏ, theo điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

7.1 Đối với tẩu thủy tinh niêm phong số: 496-M1/KL-KTHS, 01 chai nhựa nhãn hiệu Sting các bị cáo sử dụng để sử dụng ma túy được đựng trong 01 gói niêm phong có chữ ký của giám định viên Phạm Thị Hương M2 và đại diện CQCS ĐT Trần Nguyên H2, nên tịch thu tiêu hủy.

7.2 Đối với 01 điện thoại di động Mobistar YUNA 1 bị cáo T sử dụng để mua ma túy, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Văn T và Võ Minh Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1, Điều 255; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 262; 331; 333; 336; 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2023.

- Xử phạt bị cáo Võ Minh Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong (mẫu còn lại đã được giám định niêm phong theo Kết luận giám định số 496/KL-KTHS ngày 17/3/2023 có chữ ký của giám định viên Phạm Thị Hương M2, đại diện CQCS ĐT Trần Nguyên H2.

- Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa nhãn hiệu sting.

- Tịch thu vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Mobistar YUNA1.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.

3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ