vanban.org

Bản án 116/2021/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 23/04/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng B và Lê Văn Q.

Sửa Bản án số 11/2021/HSST ngày 07/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt. Giao bị cáo Nguyễn Hoàng B cho Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk nơi bị cáo thường trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Lê Văn Q cho Ủy ban nhân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng B phạm tội "tổ chức Đánh Bạc" - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng B và Lê Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2021/HSPT
Ngày 23 - 4 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung.

Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr và ông Doãn Đình Quyến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2021/TLPT-HS ngày 26 tháng 02 năm 2021 đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng B và Lê Văn Q về tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HSST ngày 07/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

* Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Hoàng B, sinh năm 1975, tại tỉnh Q; nơi cư trú: Nguyễn Văn L, xã Ea T, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đ, sinh năm: 1943 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1946; vợ Lê Thị L, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/4/2020 đến ngày 30/4/2020 được thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Văn Q , sinh năm 1960, tại tỉnh H ; nơi cư trú: Thôn T, xã Hòa T, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê V và bà Hồ Thị X (đều đã chết); vợ Nguyễn Thị T, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng).

Nhân thân: Ngày 14/02/2019 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Vi phạm quy định về quản lý đất đai” theo khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 25/11/2019 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông ra quyết định tạm đình chỉ đối với bị can để chờ kết quả giám định sức khỏe, hiện tại vẫn đang tạm đình chỉ.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/4/2020 đến ngày 30/4/2020 được thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 08 bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, không bị Viện kiểm sát kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ 10 giờ ngày 24/4/2020 tại xã Ea T, TP.Buôn Ma Thuột bị cáo Nguyễn Hoàng B tổ chức 02 chiếu bạc cho Lê Văn Q, Nguyễn Duy T, Phùng Văn H, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Trung T1, Hồ B1, Hoàng Quốc T2, Trần Quốc T3 đánh bạc bằng hình thức Phỏm được thua bằng tiền. B chuẩn bị bàn ghế, chăn, bộ bài tây và thu tiền xâu. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B bắt quả tang.

- Chiếu bạc thứ nhất gồm: T12, Q, T3, H. Số tiền đánh bạc 6.250.000 đồng, trong đó tiền trên chiếu bạc là 5.600.000 đồng, tiền xâu là 650.000 đồng.

- Chiếu bạc thứ hai gồm: S, T, N, T3. Số tiền đánh bạc 7.050.000 đồng, trong đó tiền trên chiếu bạc 6.800.000 đồng, tiền xâu 250.000 đồng.

Tại Bản án số 11/2021/HSST ngày 07/01/2021 của Tòa án nhân dân TP.Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk quyết định:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng B 01 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Lê Văn Q 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Ngoài ra bản án có quyết định hình phạt đối với 08 bị cáo, xử lý vật chứng và án phí.

Ngày 11/01/2021 bị cáo Nguyễn Hoàng B và Lê Văn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Hoàng B về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự và bị cáo Lê Văn Q về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Hình phạt đã áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ do hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra. Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng B và Lê Văn Q, cho các bị cáo được hưởng án treo. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Các bị cáo không tranh luận gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ để kết luận:

Từ 10 giờ đến 14 giờ 20 phút ngày 24/4/2020 tại xã E, TP.Buôn Ma Thuột bị cáo Nguyễn Hoàng B tổ chức 02 chiếu bạc trong cùng một lúc cho 09 bị cáo gồm Lê Văn Q, Nguyễn Duy T, Phùng Văn H, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Trung T1, Hồ B1, Hoàng Quốc T2, Trần Quốc T3, Trần Đình N đánh bạc bằng hình thức Phỏm được thua bằng tiền. Chiếu bạc thứ nhất có số tiền đánh bạc 6.250.000 đồng; Chiếu bạc thứ hai có số tiền đánh bạc 7.050.000 đồng. Bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng B về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn Q tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng B, Lê Văn Q đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo, thấy rằng:

Bị cáo Nguyễn Hoàng B và các bị cáo là bạn bè quen biết nhau, trong lúc uống cà phê thì Nguyễn Hoàng B rủ các bạn về nhà đánh bạc, bị cáo thu tiền xâu chỉ để phục vụ cho các bạn đánh bạc như mua bài, nước uống, thuốc lá, không nhằm mục đích kiếm tiền tăng thu nhập. Bị cáo Nguyễn Hoàng B có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (thành khẩn khai báo, bố là người có công với cách mạng, bà nội là Bà mẹ Việt Nam anh hùng). Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp cho HĐXX đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi bố, mẹ già và cháu mồ côi cha mẹ.

Bị cáo Lê Văn Q bị bạn bè rủ rê, lôi kéo tham gia đánh bạc, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có thành tích xuất sắc trong công tác - được tặng nhiều bằng khen). Hiện nay bị cáo đang bị bệnh hiểm nghèo (K gan) đang nhập viện để điều trị tại Bệnh viện Chợ rẫy TP. HCM. Tại phiên tòa sơ thẩm cũng đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, tuy nhiên có một số tình tiết về đặc điểm nhân thân và hoàn cảnh gia đình của hai bị cáo thì chưa được xem xét nên cần được đánh giá một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, cũng như đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo. Xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử thấy không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được tự tu dưỡng, rèn luyện, cải tạo tại địa phương là phù hợp; vừa đáp ứng mục đích trừng trị người phạm tội,vừa giáo dục họ có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa họ phạm tội mới, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm chung. Do đó cần chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng B và bị cáo Lê Văn Q, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Hoàng B, Lê Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng B và Lê Văn Q.

Sửa Bản án số 11/2021/HSST ngày 07/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời gian thử thách 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Q 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng B cho Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk nơi bị cáo thường trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Lê Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk nơi bị cáo thường trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trong trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

[2] Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Các bị cáo Nguyễn Hoàng B và Lê Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ