- Tranh chấp gì? "Lý Lệ H - Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Kho n 2 Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điểm a kho n 1 Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội khóa XIV;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| T A N NH N D N T NH B NH TH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n n s : 115/2022/HS-PT Ng y: 27 - 9 -2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC C N H A XÃ H I CH N H A V T NAM
T A N NH N D N T NH B NH TH N
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hiệu.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Th nh v ông Vũ Đức Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Khuê, Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý s 91/2022/TLPT-HS ngày 02 tháng 8 năm 2022 đ i với bị cáo Lý Lệ H do có kháng cáo của bị cáo đ i với B n án hình sự sơ thẩm s 14/2022/HSST ngày 15 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Y.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lý Lệ H (tên gọi kh c “Bé Đen”) - Sinh năm: 1991; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi đăng ký HKTT v chỗ ở: khu ph 1, thị trấn X, huyện Y, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Qu c tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Buôn b n; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lý H1 và bà Bùi Thị H2; Gia đình có ba anh em, bị cáo là con nhỏ nhất; Chồng: Nguyễn Minh H3, sinh năm 1991 (đã ly hôn); Có hai con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại và bị áp dụng biện ph p ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần A12 H4 – Công ty luật TNHH MTV Hãng luật H&P thuộc Đo n luật sư TP. HCM.
Trong vụ n còn có c c bị c o kh c không kh ng c o v không bị kh ng cáo, kh ng nghị, không liên quan A5 kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
N D N VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:
Kho ng 16 giờ 20 phút ngày 01/7/2020, Tổ công tác Công an huyện Y tiến hành kiểm tra phát hiện bắt tại khu vực đất tr ng thuộc thôn Z, xã W, huyện Y sòng bạc do Lý Lệ H (Bé Đen), sinh năm 1991, ở khu ph 1, thị trấn X và Lê A12 A, sinh năm 1981, ở thôn X1, xã W, huyện Y tổ chức dưới hình thức chơi xóc dĩa được thua bằng tiền khi Nguyễn Qu c A1, sinh năm 1994, ở thôn X2, xã Y1, huyện Y đang xóc c i cho c c con bạc đặt tiền cược gồm: Diệp Thị A2, sinh năm 1969, Lê Thị Kim A3, sinh năm 1964 cùng ở thôn X3, xã Y3; Trần Thị A4, sinh năm 1963, ở thôn X1, xã W; Long Thị A5, sinh năm 1966; Thông Thị A6, sinh năm 1974; Huỳnh Thị A7, sinh năm 1969 cùng ở thôn Z2, xã Y1, huyện Y; Thái Bình A8, sinh năm 1969, ở thôn X5, xã Y6, huyện Z3; Nguyễn Thị A9, sinh năm 1986; Nguyễn Thị A10, sinh năm 1968; Trần Thị A7, Lê Minh A11; Nguyễn Thị A12, sinh năm 1960; Nguyễn Thị A13, sinh năm 1971; Nguyễn Thị A14.
Thu giữ tại chiếu bạc: s tiền 3.430.000đ, 02 tấm bạt màu xanh, 30 ghế nhựa cao 25cm, 01 chén, 02 dĩa, 02 bộ b i tây đã qua sử dụng, 04 đồng nhị được cắt ra từ bài tây, 01 kéo và 04 rổ nhựa. 08 xe mô tô các loại gồm: xe Sirius biển s 86T1-3393, xe Vision biển s 86B3-753.40, xe Airblade biển s 86C1-128.97, xe Future biển s 86B3-511.17, xe Wave biển s 86B3-540.79, xe Blade biển s 86B3-475.90, xe Wave biển s 86C1-107.61 và xe Vision biển s 86B3-501.79.
Thu giữ s đồ vật, tài s n trên người c c đ i tượng có mặt tại sòng bạc gồm: Nguyễn Trúc A101 điện thoại Iphone 6; Diệp Thị A2 01 điện thoại Masstel v 2.300.000đ; Lê Minh A11 01 điện thoại Iphone 6 v 14.000.000đ; Trần Thị A4 01 điện thoại Masstel m u đen; Lê Thị Kim A3 01 điện thoại Itel m u đen; Nguyễn Thị A9 01 điện thoại Starlight; Nguyễn Thị A12 01 điện thoại Oppo A3S; Nguyễn Thị A13 01 điện thoại Itel v 300.000đ; Long Thị A5 01 điện thoại Mobell m u đen; Th i Bình A8 01 điện thoại Vell – com; Nguyễn Thị A14 01 điện thoại Nokia m u đen v 2.700.000đ; Nguyễn Thị A10 01 điện thoại Vell – com m u đỏ.
Qu trình điều tra x c định: trước ngày 01/7/2020 kho ng 10 ngày, Lê A12 A tổ chức sòng xóc dĩa tại khu vực Đ, xã T và khu đất rừng thuộc thôn Z, xã W cho con bạc A5 đ nh để thu tiền xâu. A5 ngày 27/6/2020, A rủ Lý Lệ H (Bé Đen) giúp tổ chức sòng bạc với nhiệm vụ qu n lý sòng bạc, giữ tiền xâu, H đồng ý tham gia. Để thuận lợi hơn cho việc tổ chức đ nh bạc, A và H thuê và phân công một s người khác giúp tổ chức sòng bạc, gồm có: Trần Thanh B1, và Nguyễn Qu c B2, sinh năm 1994, làm nhiệm vụ xóc cái; Nguyễn Trúc B3 (Út B y),; Lê Anh B4; Võ Tấn B4 và Nguyễn Ngọc B5 làm nhiệm vụ lấy tiền người thua đưa cho người thắng (hồ lỳ) và thu tiền xâu; Nguyễn Toàn B6 làm nhiệm vụ giữ tiền xâu. Thông Minh B7, Thông Minh B8 và Thông Minh B9 làm nhiệm vụ canh gác cho sòng bạc. Đặng Thanh B10 và Nguyễn Trường B11 làm nhiệm vụ lái xe ô tô chở con bạc vào sòng bạc. Lê Duy B12 làm nhiệm vụ coi ngó con bạc đặt cược, chung tiền v canh đường. A là chủ sòng bạc, thuê và phân công nhiệm vụ của những người trên khi tham gia tổ chức sòng, mua các dụng cụ phục vụ việc tổ chức đ nh bạc như tấm bạt, ghế, chén, dĩa, b i tây..., lựa chọn địa điểm để tổ chức sòng bạc, liên lạc, gọi các con bạc A5 chơi, mỗi ngày khi sòng bạc diễn ra thì A chạy vào coi ngó hoạt động của sòng kho ng 02 – 03 lần rồi về nhà. Trong thời gian tổ chức đ nh bạc, thấy sòng bạc đông người tới chơi nên A kêu H kiếm nơi thuê xe ôtô chở kh ch, sau đó, H thuê 02 ôtô (không xác định được biển s ) của một người tên Ly ở xã H (không x c định được lai lịch) để chở con bạc (theo lời khai của H thì Ly không biết H thuê xe ôtô để chở con bạc). Trong những người giúp sức tổ chức sòng bạc thì A l người trực tiếp thuê, phân công những người khác; còn H l người trực tiếp thuê, phân công A1, Tuấn, Việt v Đạt v o l m sòng xóc dĩa với những vai trò như trên. Sòng bạc diễn ra hằng ngày, thời gian mỗi ngày bắt đầu từ kho ng 14 giờ A5 18 giờ thì nghỉ. Vào buổi trưa những ngày tổ chức sòng bạc thì những người tham gia tổ chức sòng bạc tập trung tại nhà A để A phân công nhiệm vụ rồi chở bạt, ghế...v o địa điểm tổ chức sòng bạc do A lựa chọn.
Đến ngày 01/7/2020, A và H tiếp tục tổ chức sòng xóc dĩa tại khu vực đất rừng ở thôn Z, xã W như c c ng y trước đó. Kho ng 12 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô, loại Sirius (không x c định được biển s ) A5 nhà A, tại đây có A, Việt, Đạt, Quang, Hà, Tuấn, Giang và Tùng. A nói với những người này: “Không có bãi mới, làm lại bãi cũ đỡ” v kêu Việt, Quang, ra sau nhà lấy bạt, ghế...bỏ lên xe ôtô cho Giang điều khiển, rồi tất c những người n y đều lên xe ôtô để đi dọn bãi (giăng bạt, tr i chiếu bạc, ghế) tại khu đất rừng ở thôn Z, xã W (l nơi đã tổ chức sòng bạc vào những ng y trước đó). Sau đó, A gọi điện thoại kêu và chỉ vị trí để Giàng và Hộ đi canh g c Công an cho sòng bạc, Giàng và Hộ đồng ý, Giàng canh gác tại chòi rẫy của Giàng, Hộ canh gác ở cầu Kinh, xã W trên đường dẫn vào sòng bạc. Kho ng 30 phút sau, có một người (không xác định được là ai) gọi điện cho A nói đã dọn bãi xong, lúc này có nhiều con bạc (không x c định là ai theo lời khai của H) gọi điện thoại cho A, A nói họ đứng tập trung ở khu vực Ngã ba 21 và Ngã ba 19, Qu c lộ 28 để đợi ôtô A5 chở, còn H thì phân công Giang v Tùng điều khiển ôtô A5 chở các con bạc vào sòng (Giang chở được hai lần, mỗi lần kho ng 06 – 07 con bạc, Tùng chở được một lần kho ng 06 – 07 con bạc). A5 kho ng 13 giờ 30 phút cùng ngày, A liên lạc với H nói sòng bạc có khách rồi, yêu cầu H v o sòng trước để coi ngó, H điều khiển xe môtô A5 sòng, lúc này có kho ng 10 con bạc, tại sòng bạc có: Đạt, Hà, Minh, Việt, Quang và Tuấn, tất c ngồi chơi A5 kho ng 14 giờ 10 phút thì có kho ng 20 con bạc tập trung. Lúc n y, Đạt lấy chén dĩa v nhị ra ngồi xóc cái trước, Việt và Tuấn đứng một đầu sòng, Minh v H đứng ở đầu sòng còn lại để vừa thu tiền xâu và làm hồ lỳ, Quang giữ tiền xâu, còn H thì đứng xung quanh sòng coi ngó. Trong thời gian diễn ra sòng bạc, A gọi điện thoại cho H, lần thứ nhất trước khi sòng bắt đầu chơi, A gọi hỏi: “Sòng nổ m y chưa em” (nghĩa l bắt đầu chơi chưa), H nói: “Chưa đâu anh”, thì A nói: “Có nhiêu chơi bấy nhiêu đi em”, nghe vậy, H kêu Đạt bắt đầu xóc cái cho các con bạc đặt cược. Lần thứ hai, khi sòng gần bị bắt, A gọi nói: “Nghe nói sòng H m Thắng dưới đó bị bắt rồi, em đi vòng vòng coi thử”. Nghe vậy, H sử dụng điện thoại của mình, nhắn tin cho Minh nhờ coi ngó tiền xâu để H, Quang và Tuấn đi kiểm tra lực lượng Công an. Sau đó, H kêu Quang và Tuấn cùng với H mỗi người đi một hướng kiểm tra xem có lực lượng Công an không, thấy không có nên H, Quang và Tuấn đi v o sòng lại. Đạt xóc cái kho ng 45 phút thì A1 vào xóc cái thay, A5 kho ng 16 giờ 20 phút cùng ngày, khi A1 đang xóc c i cho trên 10 con bạc đặt cược thì bị Tổ Công tác Công an huyện A5 kiểm tra, mời Minh cùng 13 người tham gia đ nh bạc v 03 người có mặt tại sòng bạc nhưng không tham gia đ nh về làm việc, những người còn lại chạy thoát.
Trong ngày 01/7/2020, những người tham gia giúp sức cho Lý Lệ H và Lê A12 A tổ chức sòng xóc dĩa v được H, A phân công vai trò cụ thể như sau:
Lý Lệ H (Bé Đen) v Lê A12 A làm chủ sòng.
Trần Thanh Đạt và Nguyễn Qu c A1 làm nhiệm vụ xóc cái thay phiên nhau, cứ 45 phút thay người xóc c i v đổi đồng nhị một lần.
Lê Anh Tuấn, Nguyễn Trúc Minh (Út B y), Võ Tấn Hà (Nị) và Nguyễn Ngọc Việt (Đỏ) làm nhiệm vụ lấy tiền người thua đưa cho người thắng (hồ lỳ), thu tiền xâu.
Nguyễn Toàn Quang làm nhiệm vụ giữ tiền xâu.
Thông Minh Giàng (Gần) và Thông Minh Hộ (Hổ) làm nhiệm vụ canh gác Công an cho sòng bạc.
Nguyễn Trường Giang v Đặng Thanh Tùng làm nhiệm vụ lái xe ô tô chở con bạc A5 sòng bạc.
(Trong ngày 01/7/2020, Lê Duy A2 (Tèo D i); Thông Minh Đặng (Dặn, Bẹn); Thông Minh Thức nghỉ không tham gia tổ chức sòng bạc)
S tiền c c đ i tượng sử dụng để đ nh bạc tr i phép dưới hình thức xóc dĩa vào chiều ng y 01/7/2020 được x c định cụ thể theo lời khai nhận của các đ i tượng như sau:
1. Trần Thị A7 mang theo 500.000đ, sử dụng 500.000đ đ nh bạc, đ nh thua hết, s tiền đ nh bạc là 500.000đ.
2. Diệp Thị A2 mang theo 3.000.000đ, sử dụng 3.000.000đ đ nh bạc, đ nh thua hết 700.000đ, s tiền đ nh bạc là 3.000.000đ.
3. Lê Minh A11 mang theo 105.000.000đ, sử dụng 3.000.000đ đ nh bạc, đ nh thua hết 1.000.000đ, s tiền đ nh bạc là 3.000.000đ.
4. Trần Thị A4 mang theo 550.000đ, sử dụng 550.000đ đ nh bạc, đ nh thua hết, s tiền đ nh bạc l 550.000đ.
5. Lê Thị Kim A3 mang theo 600.000đ, sử dụng 600.000đ đ nh bạc, đ nh thua hết, s tiền đ nh bạc là 600.000đ.
6. Nguyễn Thị A9 mang theo 600.000đ, sử dụng 600.000đ đ nh bạc, đ nh thua hết 200.000đ, s tiền đ nh bạc là 600.000đ.
7. Nguyễn Thị A12 mang theo 250.000đ, sử dụng 250.000đ đ nh bạc, đ nh thua hết, s tiền đ nh bạc l 250.000đ.
8. Nguyễn Thị A13 mang theo 2.700.000đ, sử dụng 2.400.000đ đ nh bạc, đ nh thua hết, s tiền đ nh bạc là 2.400.000đ.
9. Long Thị A5 mang theo 270.000đ, sử dụng 270.000đ đ nh bạc, đ nh thua hết, s tiền đ nh bạc là 270.000đ.
10. Thái Bình A8 mang theo 700.000đ, sử dụng 700.000đ đ nh bạc, đ nh thua in hết, s tiền đ nh bạc l 700.000đ.
11. Thông Thị A6 mang theo 500.000đ, sử dụng 500.000đ đ nh bạc, đ nh chi thua hết, s tiền đ nh bạc là 500.000đ.
12. Nguyễn Thị A14 mang theo 3.000.000đ, sử dụng 3.000.000đ đ nh bạc, đ nh được ba ván, mỗi v n cược 100.0000đ (thắng hai ván, thua một ván), s tiền đ nh bạc l 3.000.000đ.
13. Nguyễn Thị A10 mang theo 500.000đ, sử dụng 500.000đ đ nh bạc, đ nh thua 200.000đ, s tiền đ nh bạc l 500.000đ.
14. Huỳnh Thị A7, sinh năm 1969, ở thôn Z2, xã Y1, huyện Y mang theo 500.000đ, sử dụng 500.000đ đ nh bạc, đ nh thua hết, s tiền đ nh bạc là 500.000đ.
Tổng s tiền đ nh bạc của 14 đ i tượng l : 16.370.000đ. S tiền thu trên chiếu bạc l 3.430.000đ. Tổng s tiền sử dụng để đ nh bạc là 19.800.000đ.
Hình thức tổ chức đ nh bạc được quy định như sau: Bộ dụng cụ dùng xóc dĩa l 01 chén, 01 dĩa v 04 đồng nhị hình tròn được cắt ra từ các lá bài tây 52 l , người xóc cái bỏ 04 đồng nhị v o trong dĩa, úp chén lên để xóc, sau đó đặt xu ng, các con bạc tùy ý đặt cược vào hai bên chẵn hoặc lẻ trên chiếu bạc, mức đặt cược không hạn chế tùy thuộc v o người đ nh. Khi không còn ai đặt cược, thì người đ nh bạc bất kỳ l ai đều được mở chén, người xóc không mở chén và khi mở chén, nếu có 02 hoặc 04 đồng nhị ngửa hoặc sấp gi ng nhau là chẵn, nếu có 01 hoặc 03 đồng nhị ngửa, sấp gi ng nhau là lẻ, tỷ lệ thắng - thua là 1:1, tức l người đ nh đặt bao nhiêu tiền, nếu thắng thì người mở chén l người làm cái của v n đó tr bấy nhiêu. A1 v Đạt chỉ xóc cái không mở chén, s tiền thắng, thua mỗi ván thì lấy tiền từ người thua để tr cho người thắng. Việc thu tiền xâu được A đặt ra như sau: Nếu kết qu khi mở chén của v n đó m có 04 đồng nhị mà lật 03 đồng xanh (03 đồng nhị lật phần lưng l b i tây lên trên), thì người thẳng v n đó ph i nộp tiền xâu, tỷ lệ tiền xâu là 5% s tiền thắng, tức là 100.000đ thu 5.000đ, 1.000.000đ thì thu 50.000đ. S tiền thu xâu trên được A sử dụng để tr công cho những người cùng giúp sức tổ chức sòng bạc.
Về tiền công, cứ mỗi ngày làm việc, sau khi sòng bạc nghỉ thì A và H sẽ tr công cho mỗi người với s tiền từ 50.000đ A5 200.000đ. Từ lúc tổ chức sòng bạc A5 khi bị bắt, s tiền thu lợi bất chính của mỗi người (theo lời khai) cụ thể như sau: Lê A12 A l 100.000đ, Lý Lệ H l 500.000đ, Trần Thanh Đạt là 300.000đ, Nguyễn Qu c A1 l 500.000đ, Lê Anh Tuấn l 400.000đ, Nguyễn Trúc Minh l 150.000đ, Võ Tấn H l 100.000đ, Nguyễn Ngọc Việt là 200.000đ, Thông Minh Hộ là 400.000đ, Thông Minh Gi ng l 200.000đ, Nguyễn Trường Giang là 100.000đ, Nguyễn Toàn Quang do tiền thu xâu ít nên chưa nhận được tiền công, Đặng Thanh Tùng mới làm nhiệm vụ chở con bạc trong ngày bị bắt qu tang 01/7/2020 nên chưa được chia tiền xâu.
Hằng ngày, A v đồng bọn tổ chức sòng xóc dĩa trên cho kho ng 20 người tại xã W và nhiều địa phương trong v ngo i huyện Y A5 tham gia đ nh bạc. Ngo i ra, trước ngày 01/7/2020 kho ng 10 ngày liên tục, A còn khai nhận cùng nhiều đ i tượng tham gia tổ chức cho nhiều người đ nh bạc để thu tiền xâu, nhưng qu trình điều tra A5 nay Cơ quan C nh s t điều tra Công an huyện Y không chứng minh được cụ thể s tiền đ nh bạc mỗi ván, những ai tham gia tổ chức đ nh bạc từng lần với vai trò, vị trí như thế nào và cụ thể bao nhiêu người đ nh bạc các lần đó nên không đủ cơ sở để xử lý tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội hai lần trở lên” đ i với A cùng đồng bọn cũng như xử lý các đ i tượng tham gia tổ chức đ nh bạc như A khai nhận.
Tại B n án hình sự sơ thẩm s 14/2022/HSST ngày 15 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Y quyết định:
Căn cứ: Điểm a kho n 1 Điều 322; Điểm s kho n 1 và kho n 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên b bị cáo Lý Lệ H (tên gọi kh c Bé Đen) phạm tội “Tổ chức đ nh bạc”.
Xử phạt Lý Lệ H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, B n n sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đ i với các bị cáo khác, biện ph p tư ph p, án phí và quyền kh ng c o theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lý Lệ H có đơn kh ng c o xin được hưởng án treo.
T i phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Lý Lệ H bổ sung yêu cầu kh ng c o, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị c o được hưởng án treo, nếu không được chấp nhận thì xin Hội đồng xét xử xem xét chuyển hình phạt tù A11 hình phạt tiền để bị cáo có điều kiện nuôi dưỡng 02 con nhỏ v chăm sóc cha mẹ già.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc gi i quyết vụ án: B n n sơ thẩm tuyên xử bị cáo Lý Lệ H về tội “Tổ chức đ nh bạc” theo điểm a kho n 1 Điều 322 Bộ luật hình sự l có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và tuyên phạt bị cáo mức án 12 tháng tù là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo H l người có nhân thân t t, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Ngoài ra các tài liệu thể hiện bị c o đã ly hôn, l lao động chính, đang trực tiếp nuôi 02 con nhỏ v chăm sóc cha mẹ gi . Đây l c c tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự mới chưa được xem xét tại Tòa án cấp sơ thẩm. Bị cáo có nơi cư trú rõ r ng. Do đó không cần thiết ph i cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần xem xét chuyển hình phạt tù A11 hình phạt tiền đ i với bị c o cũng đủ sức răn đe, gi o dục. Đồng thời tạo điều kiện để bị cáo tự c i tạo và có cơ hội nuôi dưỡng 02 con nhỏ v chăm sóc cha mẹ già là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo và sửa b n án sơ thẩm theo hướng chuyển hình phạt.
- Luật sư b o chữa cho bị c o: Quan điểm xử lý vụ án của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có tình, có lý. Nếu buộc bị cáo ph i chấp hành hình phạt tù sẽ tạo ra gánh nặng cho gia đình v xã hội vì 02 cháu nhỏ và cha mẹ già không ai chăm sóc, nuôi dưỡng.
NH N ĐỊNH C A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục t tụng: Kháng cáo của bị cáo Lý Lệ H trong thời hạn và đúng quy định pháp luật nên vụ n được xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm;
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Lý Lệ H: Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Lý Lệ H l công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tổ chức đ nh bạc là vi phạm pháp luật nhưng ngày 01/7/2020, tại khu vực đất tr ng thuộc thôn Z, xã W, huyện Y, bị cáo H cùng bị cáo Lê A12 A và một s bị cáo khác đã có h nh vi tổ chức đ nh bạc dưới hình thức chơi xóc dĩa cho hơn 14 con bạc tham gia đặt cược được thua bằng tiền để thu tiền xâu. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lý Lệ H về tội “tổ chức đ nh bạc” theo quy định tại điểm a kho n 1 Điều 322 Bộ luật hình sự l có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và tuyên phạt bị cáo mức án 12 tháng tù l có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo H l người có nhân thân t t, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Ngoài ra, sau khi kháng cáo, bị cáo cung cấp được tài liệu có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện: bị c o đã ly hôn, l lao động chính, đang nuôi 02 con nhỏ v chăm sóc cha mẹ gi . Đây l c c tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại kho n 2 Điều 51 BLHS chưa được xem xét tại Tòa án cấp sơ thẩm. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ r ng. Sau khi cân nhắc, Hội đồng xét xử xét thấy cần chuyển hình phạt tù A11 hình phạt tiền đ i với bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, nhằm tạo điều kiện để bị cáo có cơ hội nuôi dưỡng con nhỏ v chăm sóc cha mẹ già. Do đó, kháng cáo xin chuyển hình phạt của bị c o được chấp nhận.
[3] Các quyết định khác của b n n sơ thẩm không có kháng cáo có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo H được chấp nhận nên bị cáo H không ph i chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ v o điểm b kho n 1 Điều 355, điểm đ kho n 1 Điều 357 của Bộ luật T tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý Lệ H và sửa B n án hình sự sơ thẩm s 14/2022/HS-ST ngày 15 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Y.
Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 322; điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Kho n 2 Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điểm a kho n 1 Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội khóa XIV;
1. Tuyên b : Bị cáo Lý Lệ H phạm tội “Tổ chức đ nh bạc”. Xử phạt bị cáo Lý Lệ H 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Lý Lệ H không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của b n n sơ thẩm không có kh ng c o đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo.
B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2022)./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Sở Tư ph p tỉnh Bình Thuận; - Phòng PV 06 - Công an tỉnh; - VKSND huyện;TAND huyện Y; - Công an huyện; Chi cục THADS Y; - Những người tham gia t tụng; - Lưu: Tổ HCTP, Hồ sơ vụ án. Thành viên H i đồng xét xử Nguyễn Văn Thành Vũ Đức Hùng | TM. H Đ N T PHÚC TH M TH M PH N – CH T A PH N T A Trần Phước Hiệu Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Phước Hiệu |