vanban.org

Bản án 115/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 27/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2018/HS-ST.
Ngày: 27-12-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ksơr Y Nai – Cán bộ hưu trí.

Bà Triệu Thị Danh – Phó chủ tịch hội người cao tuổi huyện Ea H’Leo.

-Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Công Đức – Thư ký Tòa án.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Công Thức – Kiểm sát viên.

Ngày 27/12/2018 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2018/TLST-HS ngày 03/12/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2018/QĐXXST-HS ngày 14/12/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Văn Đ (tên gọi khác Lương Minh Đ); sinh năm 1991; tại: TP Hải Phòng; nơi đăng ký NKTT và nơi cư trú: Thôn b, xã H, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn Nh (đã chết) và bà Hầu Thị Ng – sinh năm 1974; tiền án: Ngày 18/9/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo xử phạt 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, đến ngày 18/11/2011 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 17/01/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 19/7/2014 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 27/8/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 17/3/2016 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 28/10/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 16/11/2017 chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2018, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bị hại:

Anh Nguyễn Đức Th; sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn c, xã E, huyện L, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trương Thị Ph; sinh năm 1971. Nơi cư trú: TDP d, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.

Người làm chứng:

Anh Lữ Văn Tr; sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn đ, xã E, huyện L, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 27/9/2018, Lương Văn Đ đi từ nhà ở thôn b, xã H đến thôn x, xã E thì Đ gặp Lữ Văn Tr (bạn Đ) đang điều khiển xe mô tô đi trên đường. Thấy vậy, Đ nhờ Tr chở Đ đến thôn v, xã E thì Tr đồng ý. Khi Tr đang điều khiển xe mô tô chở Đ đi đến đoạn đường thuộc thôn c, xã E thì Đ nói Tr dừng xe lại để Đ đi vào trong quán cà phê U&I của anh Nguyễn Đức Th có việc riêng. Tr dừng xe và đứng ngoài đường còn Đ đi vào bên trong quán thì thấy quán cà phê mở cửa nhưng không có người trông coi nên Đ nảy sinh ý định tìm tài sản để trộm cắp. Lúc này, Đ đi đến chiếc tủ gỗ dùng tay kéo ngăn tủ ra thì thấy có một xấp tiền việt nam đồng, gồm các mệnh giá 5.000 đồng, 2.000 đồng, 1.000 đồng nên Đ đã lấy trộm xấp tiền bỏ vào túi quần rồi tiếp tục lấy trộm 02 cây thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN do việt nam xản suất được để trong ngăn tủ. Sau khi trộm cắp được tài sản, Đ đi ra nơi Tr đang đứng và nói Tr chở Đ vào thị trấn Đ để giải quyết công việc riêng thì Tr đồng ý. Khi Tr chở Đ đi đến tổ dân phố d, thị trấn Đ thì Đ nói Tr dừng xe lại cho Đ xuống xe rồi Tr điều khiển xe mô tô về lại xã E, còn Đ thì đi vào quán tạp hóa của bà Trương Thị Ph bán cho bà Ph 02 cây thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN được số tiền 250.000 đồng. Sau đó Đ đi về lại xã E và kiểm đếm số tiền đã trộm cắp tại quán cà phê được tổng cộng 76.000 đồng.

Tại biên bản kết luận định giá tài sản số 682/BB-ĐGTS, ngày 02/10/2018, của Hội đồng định giá tài sản huyện Ea H’Leo, kết luận: 02 cây thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN trị giá 390.000 đồng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung tại bản cáo trạng số 111/CT-VKS, ngày 28/11/2018 truy tố bị cáo Lương Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn Đ mức án từ 12 đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Cần chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã giao trả cho anh Nguyễn Đức Th 01 cây thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường, nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết được việc làm của bị cáo là sai trái, bị cáo xin Hội đồng xét xử xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về làm người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ea H’Leo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Ngày 27/9/2018, Lương Văn Đ đã có hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Đức Th 76.000 đồng tiền VNĐ và 02 cây thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN. Tổng trị giá tài sản được xác định có giá trị là 466.000 đồng. Mặc dù giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã có tiền án về trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà bị cáo lại tiếp tục vi phạm, nên hành vi này của bị cáo đã cấu thành tội “trộm cắp tài sản”.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ nhận thức để biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Thế nhưng do động cơ tham lam, tư lợi, lười lao động nhưng lại muốn có tiền tiêu xài, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại Điều luật này quy định như sau:

1. “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...

b, Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm...”

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất ổn định về an ninh, trật tự tại địa phương, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ban ngày thể hiện sự liều lĩnh, táo tợn, coi thường pháp luật ở mức cao. Mặc khác, bị cáo đã từng bị xử phạt về các tội “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 16/11/2017 chấp hành xong các hình phạt tù, chưa được xóa án tích. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tự cải tạo, rèn luyện bản thân mình làm người lương thiện mà tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ tác dụng trừng trị, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo thành người sống biết chấp hành pháp luật. Ngoài ra, còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét, giảm nh cho bị cáo một phần trách nhiêm hình sự để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Vì xét thấy, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo; tài sản trộm cắp có giá trị không lớn. Đây là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử cần cân nhắc, xem xét.

Xét mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo có phần nghiêm khắc, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Cần chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã giao trả cho anh Nguyễn Đức Th 01 cây thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN.

. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường, nên không đề cập giải quyết.

. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên:

UY T ĐỊNH:

-Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tuyên b : Bị cáo Lương Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

-Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lương Văn Đ (tên gọi khác: Lương Minh Đ) 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/9/2018.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã giao trả cho anh Nguyễn Đức Th 01 cây thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN.

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lương Văn Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ