vanban.org

Bản án 115/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 18/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Minh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Minh D 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/8/2017). Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Đỗ Minh D nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Minh D phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Minh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA
__________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2017/HSST
Ngày 18/8/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cà Văn Pản

2. Bà Lò Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hà - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Pha ̣m Quốc Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 120/2017/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Đỗ Minh D - Sinh ngày 22/4/1992, tại Hà Nội; Nơi ĐKNKTT: Thôn C, xã L, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Đỗ Văn V (tên gọi khác Đỗ Ngọc V) - Sinh năm 1964, con bà Nguyễn Thị Tú O - Sinh năm 1968; Có vợ là Nguyễn Thu H - Sinh năm 1997 và có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2017 đến nay, có mặt tại phiên toà.

Ngƣời bị hại: Anh Hà Văn H , trú tại: Bản N, phường A, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, vắng mặt tại phiên tòa.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lường Văn K, trú tại bản Đ, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Đỗ Minh D bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 00 giờ 40 phút ngày 10/4/2017, Tổ công tác Công an phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 3, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La phát hiện Đỗ Minh D , sinh năm 1992, trú tại thôn C , xã L, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội đang điều khiển xe máy có hành vi khả nghi , tổ công tác tiến hành kiểm tr a, D khai nhận chiếc xe máy D đang điều khiển do D lén lút chiếm đoạt.

Vật chứng thu giữ: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 26B2 - 05573; 01 đăng ký xe; 01 bộ vam phá khóa tự chế gồm: 01 cờ lê 08 bằng kim loại, 01 đoạn kim loại 06 cạnh, 01 chiếc tô vít; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HANMUNSPEED, biển kiểm soát 26H2 - 1834.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Đỗ Minh D khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Ngày 09/4/2017, D đi xe khách từ nhà lên thành phố Sơn La , tối cùng ngày D vào nhà nghỉ Thư Bằng

2 để lấy chiếc xe máy nhãn hiệu HANMUNSPEED, biển kiểm soát 26H2 - 1834 (chiếc xe máy do D lén lút chiếm đoạt ngày 29/3/2017 của anh Lường Văn K, trú tại bản Đ, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La), cùng 01 bộ vam phá khóa gồm 01 chiếc cà lê 08 bằng kim loại, 01 đoạn kim loại có 06 cạnh dài 7,8cm, 01 chiếc tô vít dài 21cm. D điều khiển xe đi đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/4/2017, D phát hiện 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, BKS 26B2 - 05573 của anh Hà Văn H, trú tại bản N, phường A, thành phố Sơn La đang để trên vỉa hè trước cửa quán nét

, quan sát thấy không có người trông coi nên D điều khiển xe máy đi vào ngõ 14, tổ 4, phường Chiềng Lề , bỏ chiếc xe lại , D đi bộ đến chỗ để chiếc xe máy Honda, BKS 26B2 - 05573 dắt chiếc xe đi đến khu vực cổng trường Cao đẳng y tế Sơn La. Sau đó, D dùng bộ vam phá khóa mang theo người phá khóa điện và điều khiển xe về trung tâm thành phố. Khi vừa đi được 100m thì bị Công an phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La phát hiện và bắt quả tang.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Minh D khai nhận trước đó vào ngày 29/3/2017, D đã lợi dụng chủ sở hữu sơ hở chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HANMUNSPEED, biển kiểm soát 26H2 - 1834 của anh Lường Văn K, trú tại bản Đ, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

Kết quả định giá tài sản ngày 10/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự: Giá trị còn lại của chiếc xe máy Honda Wave , BKS 26B2 -05573 là 16.160.000 đồng (mườ i sáu triê ̣u mô ̣t trăm sáu mươi nghin đồng).

̀

Kết quả định giá tài sản ngày 05/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự

: Giá trị còn lại của chiếc xe máy nhãn hiệu HANMUNSPEED, biển kiểm soát 26H2 - 1834 là 1.350.000 đồng (mô ̣t triê ̣u ba trăm năm mươi nghin đồng).

̀

Tại Bản cáo trạng số: 75/KSĐT, ngày 18 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố: Bị cáo Đỗ Minh D về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà sau khi trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh D phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Minh D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015:

Chấp nhận anh Hà Văn H đã nhận lại tài sản là 01 chiếc xe máy Honda Wave, BKS 26B2 – 05573; Chấp nhận gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường chi phí sửa chữa xe máy và công truy tìm cho người bị hại anh Hà Văn H số tiền 1.000.000 đồng, anh Hà Văn H không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Anh Lường Văn K đã nhận lại tài sản là 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HANMUNSPEED, biển kiểm soát 26H2 - 1834, chấp nhận anh K không có yêu cầu bồi thường.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho anh Hà Văn H 01 chiếc xe máy nhan hiê ̣̃

u Honda Wave , BKS 26B2 -05573; trả lại cho anh Lường Văn K 01 chiếc xe máy nhan hiê ̣̃

u HANMUNSPEED , biển kiểm soát 26H2 - 1834.

Trả lại bị cáo Đỗ Minh D 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; tịch thu và tiêu hủy 01 chiếc cà lê 08 bằng kim loại, 01 đoạn kim loại có 06 cạnh dài 7,8cm, 01 chiếc tô vít dài 21cm.

Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HANMUNSPEED, biển kiểm soát 26H2 – 1834 của anh Lường Văn K, trú tại bản Đ, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ngày 29/3/2017, giá trị tài sản 1.350.000 đồng, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi không cấu thành tội phạm, cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại tài sản cho anh Lường Văn K.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên , bị cáo, người bị hại, ngườ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Minh D khai nhận ngày 10/4/2017 đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 26B2 - 05573 trị giá 16.160.000 đồng của anh Hà Văn H – trú tại: bản N, phường A, thành phố Sơn La với mục đích chi tiêu cá nhân . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, D khai nhận trước đó vào ngày 29/3/2017 D còn thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HANMUNSPEED, biển kiểm soát 26H2

- 1834 trị giá 1.350.000 đồng của anh Lường Văn K - trú tại: bản Đ, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của bị cáo phù hợp với:

Lời khai của người bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản định giá (thẩm định) tài sản; Vật chứng thu giữ.

Từ những căn cứ trên, đủ cơ sở kết luận hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá 16.160.000 đồng (mườ i sáu triê ̣u mô ̣t trăm sáu mươi nghin đồng ) của bị

̀ cáo Đỗ Minh D đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo Đỗ Minh D là nguy hiểm cho xã hội phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân, trật tự an toàn xã hội, bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản

01 chiếc xe máy nhãn hiệu HANMUNSPEED, biển kiểm soát 26H2 - 1834, trị giá 1.350.000 đồng (mô ̣t triê ̣u ba trăm năm mươi nghin đồng) của anh Lường Văn K, trú tại bản Đ, xã C,

̀ huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

Xét thấy: Tài sản bị cáo chiếm đoa ̣t trị giá 1.350.000 đồng (mô ̣t triê ̣u ba trăm năm mươi nghin đồng), hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm, chưa

̀ đến mức xử lý trách nhiệm hình sự, tài sản đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, chủ sở hữu tài sản anh Lường Văn K đã nhận được tài sản, không yêu cầu giải quyết, việc cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ pháp luâ ̣t.

Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 48 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo và gia đình tích cực bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại, người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, chưa bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 46, có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, có khả năng tự cải tạo. Từ các căn cứ nêu trên xét thấy bị cáo có đủ điều kiện cho hưởng án treo, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, căn cứ khoản 1, 2 Điều 60 của Bộ luật Hình sự, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Đỗ Minh D nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác, căn cứ khoản 4 Điều 227 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, điều tra bị cáo không có tài sản nên không áp dụng.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 584; Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015:

Chấp nhận người bị hại anh Hà Văn H đã nhận được tài sản , và số tiền 1.000.000 đồng (mô ̣t triê ̣u đồng ) tiền công truy tìm, sửa chữa tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lường Văn K đã được Cơ quan điều tra trả lại tài sản 01 chiếc xe máy, anh K không yêu cầu bị cáo bồi thường, không yêu cầu giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại: Anh Hà Văn H 01 chiếc xe máy Honda Wave, BKS 26B2 -05573; trả lại anh Lường Văn K 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HANMUNSPEED, biển kiểm soát 26H2 - 1834.

Xét thấy tài sản thuộc sở hữu của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, việc Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản là có căn cứ pháp luật cần chấp nhận, căn cứ khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với vật chứng: 01 (một) Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, là tài sản cá nhân của bị cáo , không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo , cần trả lại cho bị cáo Đỗ Minh D căn cứ điểm b khoản

2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với vật chứng: 01 (một) chiếc cờ lê 8 bằng kim loại màu trắng bạc có chữ YETI, qua sử dụng ; 01 (một) đoạn kim loại có 6 cạnh màu nâu đen dài 7,8cm có chữ YETI , một đầu mài dẹp hai bên; 01 (một) chiếc tua vít dài 21cm, chuôi cầm bằng gỗ, thân bằng kim loại màu nâu đen, mũi tua vít bằng kim loại màu vàng, qua sử dụng, bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội do đó cần tịch thu tiêu hủy, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Minh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự, khoản 4 Điều 227 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Minh D 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/8/2017).

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Đỗ Minh D nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Đỗ Minh D về nơi thường trú Ủy ban nhân dân xã L, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015:

Chấp nhận người bị hại anh Hà Văn H đã nhận được tài sản 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 26B2 - 05573, chấp nhận bị cáo Đỗ Minh D và gia đình đã bồi thường số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) tiền công truy tìm, sửa chữa tài sản cho anh Hà Văn H, anh H không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại: Người bị hại anh Hà Văn H 01 (một) chiếc xe máy Honda Wave, BKS 26B2 -05573.

Trả lại bị cáo Đỗ Minh D 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại màn hình cảm ứng màu nâu đồng, mở nắp pin kiểm tra phía sau có số Imei 1: 352700/07/963729/3 (số Imei nêu trong biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 10/4/2017, không kiểm tra được do máy có mật khẩu khóa màn hình), qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc cờ lê 8 bằng kim loại màu trắng bạc có chữ YETI, qua sử dụng; 01 (một) đoạn kim loại có 6 cạnh màu nâu đen dài 7,8cm có chứ YETI, một đầu mài dẹp hai bên; 01 (một) chiếc tua vít dài 21cm, chuôi cầm bằng gỗ, thân bằng kim loại màu nâu đen, mũi tua vít bằng kim loại màu vàng, qua sử dụng.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Đỗ Minh D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Đỗ Minh D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 18/8/2017), người bị hại anh Hà Văn H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ