vanban.org

Bản án 114/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 08/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Kim Myeong J và Kim Young K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật…"
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 114/2023/HS-ST
Ngày: 08/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Vĩnh Chuyển

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Công Khánh

Bà Hà Thị Minh Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hồng Lĩnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Lựu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2023/QĐXXST-HS ngày 23/11/2023 đối với các bị cáo:

1. KIM MYEONG J, sinh ngày xx/xx/19xx tại Hàn Quốc; Nơi ĐKNKTT: 1xx “S”, CCND, “TA”, Hàn Quốc; Chỗ ở trước khi bị bắt tại Đà Nẵng: Khách sạn “H” đường ATxx, phường MA, quận NS, thành phố Đà Nẵng; Số hộ chiếu: M0575XXXX, cấp ngày 21/01/2021, nơi cấp: Hàn Quốc; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Hàn; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Hàn Quốc; Con ông Kim Eung R và bà Cho Song J (Đều còn sống); Có vợ là: Lee M và có 01 con sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 19/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.

2. KIM YOUNG K, sinh ngày xx/xx/19xx tại Hàn Quốc; Nơi ĐKNKTT: 3xx “N”, “CCND”, “TA”, Hàn Quốc; Chỗ ở trước khi bị bắt tại Đà Nẵng: Khách sạn “H” đường ATxx, phường MA, quận NS, thành phố Đà Nẵng; Số hộ chiếu: M2191xxxx, cấp ngày 16/03/2021, nơi cấp: Hàn Quốc; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Hàn; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cơ đốc; Quốc tịch: Hàn Quốc; Con ông Kim Kyeong C (còn sống) và bà Che D (đã chết); Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 19/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Kim Myeong J theo yêu cầu của bị cáo: Luật sư Phạm Ngọc H, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng; Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Kim Young K theo yêu cầu của bị cáo: Luật sư Nguyễn Hữu N, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng; Có mặt.

*Người phiên dịch cho các bị cáo bà: Phạm Thị Anh T; sinh năm 19xx - Cộng tác viên phiên dịch tiếng Hàn Quốc, thuộc Trung tâm phục vụ đối ngoại - Sở Ngoại vụ thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Guan Wen Q, sinh năm 19xx; Nơi ĐKNKTT: TQ, QD, Trung Quốc; Chỗ ở: S, phường MA, quận NS, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Ánh H, sinh năm 19xx; Nơi ĐKNKTT: 1xx Hàn Thuyên, phường BD, thành phố TH, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: 4xx Ngô Quyền, phường AB, quận S, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.

3. Bà Đỗ Thị Kim T1, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: Tổ xx thị trấn VG, huyện VN, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt.

4. Bà Nguyễn Nhật Bảo T2, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: Tổ xx, khối xx, phường CP, thành phố HA, tỉnh Quảng Nam; Vắng mặt.

5. Ông Phạm Hồng T4, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: xx Ngõ xx Hoàng Đạo Thành, KG, TX, Hà Nội; Vắng mặt.

6. Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: xx Phạm Ngọc Thạch, phường TP, quận C, thành phố Đà Nẵng;

7. Ông Nguyễn Thanh N1, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: Thôn NP, xã LA, huyện PL, tỉnh Thừa Thiên Huế; Vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Ông Kwon Tae K, sinh năm 19xx;

2. Ông Kang Jae S, sinh năm 19xx;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 03 giờ 30 phút ngày 19/3/2023, tại căn hộ B2 “OV”, phường HH, quận NS, thành phố Đà Nẵng, Công an quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Kim Myeong J, Kim Young K, về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Tang vật tạm giữ gồm: 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 01 (một) ống hút quấn từ tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (Mười ngàn đồng); 01 (một) thẻ nhựa màu đen, tất cả đều có bám dính chất bột màu trắng, được niêm phong theo quy định, (ký hiệu T1); 01 (một) loa màu đen hiệu Harman Kadon; 02 (hai) đèn laze, gồm một đèn màu đen và một đèn màu trắng; 02 (hai) bình kim loại màu xanh.

* Thu giữ của Kim Myeong J gồm: Số tiền 30.000 (ba mươi ngàn) Won Hàn Quốc; Số tiền 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm ngàn đồng) Việt Nam; 01 (một) bằng lái xe của Kim Myeong J; 01 (một) thẻ Hoiana; 01 (một) thẻ Huyndai; 01 (một) thẻ Monachy; 02 (hai) điện thoại di động có chữ Samsung.

* Thu giữ của Kim Young K gồm: Số tiền 1.000 (một ngàn) USD; số tiền 18.350.000 đồng (Mười tám triệu, ba trăm năm mươi ngàn đồng) Việt Nam; 01 (một) thẻ OTP; 01 (một) thẻ Visa; 01 (một) thẻ Casino Dream Rom; 01 (một) thẻ Casino Prestige; 01 (một) thẻ Visa Hana Card; 01 (một) thẻ Vivax; 01 (một) thẻ Unionpay; 01 (một) thẻ Id Card; 01 (một) điện thoại di động có chữ SamSung và 01 (một) điện thoại di động có chữ Iphone.

Kết luận giám định số 247/KLMT-KTHS ngày 24/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Chất bột màu trắng bám dính trong mẫu niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamin; khối lượng mẫu T1: 0,044 gam.

Qua điều tra xác định:

Lần thứ nhất: khoảng 21 giờ 00 phút ngày 18/3/2023, Kim Myeong J, Kim Young K, Kwon Tae K, Kang Jae S, Guan Wen Q, Đỗ Thị Kim T1, Nguyễn Ánh H, Nguyễn Nhật Bảo T2 đến quán Nuna Club tại số 100 đường Yên Bái, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng để chơi. Tại đây, Kim Myeong J muốn sử dụng ma túy cùng nhóm bạn nên đã gặp một người nam thanh niên trong quán (không rõ nhân thân lai lịch) mua 03 (ba) viên thuốc lắc và 01 (một) gói Ketamin với giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Sau đó, Kim Myeong J lấy ma túy sử dụng đầu tiên, rồi đến nhóm bạn gồm: Guan Wen Q, T1, H, T2 sử dụng sau. Năm người này sử dụng hết 1,5 viên thuốc lắc, còn Kim Young K, Kwon Tae K, Kang Jae S không có sử dụng ma túy tại đây.

Lần thứ hai: khoảng 01 giờ 00 phút ngày 19/3/2023, cả nhóm tám người đi đến căn hộ B2 “OV” thuộc phường HH, quận NS, thành phố Đà Năng (do Kim Young K đã đặt thuê từ ngày 17/3/2023 thông qua Nguyễn Thanh N1) để tiếp tục chơi.

Trước khi đi, Kim Myeong J lấy 1,5 viên thuốc lắc và 01 gói Ketamin còn lại bỏ vào túi quần để mang qua căn hộ B2 “OV” tiếp tục sử dụng. Trên đường đi thì Kim Myeong J ghé qua căn hộ Monachi (Jun đã thuê để ở) để lấy bộ loa và đèn laser mang theo qua căn hộ B2 “OV”.

Khi đến căn hộ B2 “OV”, Kim Myeong J bỏ 1,5 viên thuốc lắc trên bàn của phòng khách rồi lấy đĩa sứ có sẵn trong căn hộ để đổ gói Ketamin ra. Sau đó, Jun lấy thẻ nhựa màu đen trong ví ra nghiền nát, xào Ketamine và chia thành đường thẳng, rồi Jun lấy ống hút sử dụng Ketamine đầu tiên. Sau đó, bỏ đĩa sứ chứa ma túy trên bàn để nhóm bạn sử dụng.

Cùng lúc đó, Kim Young K cắm điện để bật đèn laze, rồi dùng điện thoại kết nối với bộ loa mở nhạc để cả nhóm nghe trong khi sử dụng ma túy. Tại đây Kim Myeong J, Kim Young K, Guan Wen Q, H, T1, T2 cùng nhau sử dụng ma túy (loại thuốc lắc và ketamin). Đến 03 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng vào kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 144/CT-VKS-P1 ngày 06/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Kim Myeong J về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Truy tố bị cáo Kim Young K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Kim Myeong J và Kim Young K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Bản cáo trạng số 144/CT-VKS-P1 ngày 06/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội danh mà Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt các bị cáo một hình phạt nhẹ, để sớm được về đoàn tụ với gia đình.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Kim Myeong J và bị cáo Kim Young K như nội dung Cáo trạng số 144/CT-VKS-P1 ngày 06/11/2023. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của các bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Kim Myeong J và Kim Young K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”

Về hình phạt:

- Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017);

Xử phạt: Bị cáo Kim Myeong J từ 08 (tám) năm tù đến 09 (chín) năm tù.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017);

Xử phạt: Bị cáo Kim Young K từ 07 (bảy) năm tù đến 08 (tám) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý các vật chứng thu giữ như đã nêu trong nội dung bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Luật sư Phạm Ngọc Hải người bào chữa cho bị cáo Kim Myeong J có luận cứ bào chữa như sau: Thống nhất về tội danh, điều luật truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, luật sư cho rằng về tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố đối với bị cáo Kim Myeong J là chưa phù hợp với các lý do sau: Về thời gian không có sự tách biệt mà liên tục kéo dài từ 21 giờ ngày 18/3 đến 03 giờ ngày 19/3/2023. Về cơ cấu các thành viên tham gia sử dụng ma túy tại hai địa điểm không thay đổi, nhóm người sử dụng ma túy chỉ chuyển đổi từ vị trí này sang vị trí khác và cùng sử dụng phương tiện để di chuyển. Việc sử dụng ma túy của nhóm chưa kết thúc ở Nuna Club mà vần tiếp diễn tại địa điểm mới. Mặt khác, tại bản kết luận điều tra thể hiện một lần từ thời gian 21 giờ ngày 18/3 đến khi kết thúc bị bắt 03 giờ ngày 19/3/2023. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu tại Việt Nam, quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn và tự thú khai ra việc mua ma túy tại địa điểm “NC” cho nhóm bạn sử dụng không bị phát hiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồng thời bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Với những lập luận trên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt không áp dụng tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255; xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điêm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để áp dụng cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất có thể, để bị cáo có ít thời gian cải tốt sớm được về với gia đình.

Luật sư Nguyễn Hữu Nghĩa người bào chữa cho bị cáo Kim Young K có quan điểm luận cứ bào chữa như sau: Thống nhất về tội danh, điểm, khoản, điều luật Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố đối với bị cáo Kim Young K, nên không có tranh luận về tội danh. Tuy nhiên, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt cần xem xét đến các yếu tố sau: Việc bị cáo thuê căn hộ trước đó với mục đích mời bạn bè đến chơi vào ngày cuối tuần, chứ không phải nhằm mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tại quán Nuna Club bị cáo không tham gia sử dụng ma túy cùng với nhóm bạn, việc bị cáo rủ nhóm bạn về căn hộ Vila (do bị cáo thuê trước đó) là để tiếp tục cùng ăn nhậu, không có mục đích sử dụng ma túy; việc bị cáo Jun mang số ma túy còn lại từ quán Nuna Club về căn hộ sử dụng bị cáo không biết. Mặt khác, bị cáo là người nước ngoài nên nhận thức pháp luật Việt Nam có phần hạn chế, không biết pháp luật Việt Nam quy định xử lý hình sự đối người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, vì vậy, trong vụ án bị cáo chỉ tham gia với vai trò đồng phạm thứ yếu, không đáng kể, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và cũng đã có một thời gian phục trong lực lượng quân đội Đại Hàn Dân Quốc, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, mẹ mất sớm, cha già yếu, trên cơ sở đó luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điếm khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt truy tố để bị cáo có ít thời gian học tập cải tạo tốt, sớm được về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án; do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thành phố Đà Nẵng, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, luật sư và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Qua xem xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa; lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát; luận cứ bào chữa của các Luật sư người bào chữa cho các bị cáo; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 18/3/2023, Kim Myeong J, Kim Young K (Quốc tịch Hàn Quốc) cùng 06 (sáu) người khác gồm: Kwon Tae K, Kang Jae S, Guan Wen Q, Đỗ Thị Kim T1 và Nguyễn Nhật Bảo T2 đến quán “NC” tại số 1xx đường Yên Bái, quận C, thành phố Đà Nẵng để chơi. Tại đây, Kim Myeong J có mua của một người nam thanh niên trong quán (không rõ nhân thân lai lịch) 03 (ba) viên thuốc lắc và 01 (một) gói Ketamin rồi cùng 04 đối tượng khác trong nhóm sử dụng tại quán Nuna Club.

Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 19/3/2023, cả nhóm di chuyển đến căn hộ B2 “OV” thuộc phường HH, quận NS, thành phố Đà Nẵng, do bị cáo Kim Young K (thuê ở trước đó), tại đây Kim Myeong J lấy ra 1,5 viên thuốc lắc và 01 (một) gói Ketamin (mua tại quán Nuna Club chưa sử dụng hết) rồi sử dụng đĩa sứ đổ Ketamin ra đĩa, dùng thẻ nhựa nghiền nát rồi phân chia thành nhiều đường thẳng, mang loa, đèn laser đến để cho Kim Young K cắm điện bật đèn laser, rồi dùng điện thoại kết nối với bộ loa mở nhạc cho cả nhóm cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy cho đến 03 giờ 30 cùng ngày thì bị Công an quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng vào kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Với hành vi trên của Kim Myeong J, Kim Young K là đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó, Kim Myeong J phạm tội với 02 tình tiết định khung quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Kim Young K phạm tội với 01 tình tiết định khung tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số 144/CT-VKS-P1 ngày 06/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hình sự Việt Nam.

Điều 255: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quy định như sau:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

…”

Xét tính chất của vụ án, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, bởi lẽ, ma túy là loại độc dược gây nghiện, vì vậy Nhà nước Việt Nam nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, tổ chức sử dụng dưới bất cứ hình thức nào gây hậu quả nghiêm trọng đều bị xử lý tùy theo tính chất, mức độ do hành vi trái pháp luật đó gây ra. Các bị cáo Kim Myeong J, Kim Young K là người nước ngoài (có quốc tịch Hàn Quốc) đến Việt Nam du lịch, lẽ ra khi đến Việt Nam các bị cáo phải ý thức chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật Việt Nam, song chỉ vì sự ham muốn của bản thân các bị cáo bất chấp sự trừng trị của pháp luật Việt Nam lén lút tổ chức cho nhiều đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây ra nhiều hệ lụy xấu cho xã hội và cộng đồng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng và toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung. Vì vậy, việc các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố các bị cáo để xét xử theo pháp luật hình sự Việt Nam là phù hợp với Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề Dân sự, Hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đại Hàn Dân Quốc. Do đó, đối với các bị cáo cần phải xử phạt nghiêm khắc theo pháp luật hình sự Việt Nam nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung là cần thiết.

Xét đây là vụ án có đồng phạm cùng tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng ở mức độ thông thường, trong đó xác định vai trò của từng bị cáo thì thấy:

Đối với bị cáo Kim Myeong J là người khởi xứng trực tiếp mua ma túy để cung cấp cho cả nhóm sử dụng tại hai địa điểm (quán “NC” và căn hộ Ocean Vila), đồng thời cũng là người mang theo loa, đèn và sử dụng đĩa sứ đổ Ketamine ra đĩa, lấy thẻ nhựa, nghiền và phân chia Katamine cho cả nhóm sử dụng, bị cáo bị truy tố với hai tình tiết định khung quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, nên đối với bị cáo cần xử phạt nghiêm khắc và khi quyết định hình phạt có cao hơn so với bị cáo Kim Young K là thích đáng.

Đối với bị cáo Kim Young K tham gia với vai trò đồng phạm thứ yếu, không đáng kể, chỉ cho cả nhóm đến địa điểm Vila (do mình thuê ở trước) và trực tiếp mở đèn laser, cài đặt, kết nối điện thoại với loa nghe nhạc để cả nhóm sử dụng ma túy, bị cáo bị truy tố với một tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, tham gia với vai trò có mức độ nên về quyết định hình phạt có thấp hơn so với bị cáo Kim Myeong J là phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đồng thời bị cáo Kim Myeong J còn tự thú khai ra việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trước đó tại quán “NC” chưa bị phát hiện, bị cáo Kim Young K có một thời gian phục vụ trong lực lượng quân đội Đại Hàn Dân Quốc, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo Kim Myeong J được hưởng tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị cáo Kim Young K được hưởng tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) để xem xét áp dụng khi quyết định hình phạt cho các bị cáo.

Về quyết định hình phạt:

Xét các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, có khung hình phạt tù từ 07 đến 15 năm tù theo pháp luật hình sự Việt Nam, vì vậy, cần phải tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, cải tạo, giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa là cần thiết.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt như đã nhận định tại tiểu mục [6.1] ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự phạt tiền bổ sung mỗi bị cáo 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) Việt Nam để sung vào ngân sách nhà nước.

Xét các bị cáo Kim Myeong J, Kim Young K là người nước ngoài có quốc tịch Hàn Quốc, giữa Việt Nam và Đại Hàn Dân Quốc có ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp về Hình sự. Các bị cáo Kim Myeong J, Kim Young K không thuộc đối tượng chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù để tiếp tục thi hành án. Vì vậy, ngoài hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn mà các bị cáo phải thi hành án tại Việt Nam và phạt bổ sung tiền sung vào ngân sách nhà nước. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng thêm Điều 37 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), buộc trục xuất các bị cáo Kim Myeong J, Kim Young K rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sau khi các bị cáo chấp hành xong hình phạt tù theo quyết định của Bản án tại Việt Nam.

Xét luận cứ bào chữa của các Luật sư người bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về luận cứ bào chữa của Luật sư Phạm Hồng Hải đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Kim Myeong J là không có căn cứ, nên không chấp nhận. Tuy nhiên, về việc đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp với nhận định tại tiểu mục [5.2] nên ghi nhận, song về mức hình phạt luật sư đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về luận cứ bào chữa của Luật sư Nguyễn Hữu Nghĩa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo Kim Young K là có cơ sở nên ghi nhận.

Đối với các vấn đề có liên quan khác trong vụ án:

Thời điểm bắt giữ, qua thử test nước tiểu Kim Myeong J, Kim Young K dương tính với ma túy. Bản thân Kim Myeong J, Kim Young K thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Kim Myeong J, Kim Young K là có cơ sở.

Đối với nam thanh niên là người bán ma túy cho Kim Myeong J, do chưa có cơ sở để xác minh nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

Đối với Guan Wen Q, Nguyễn Ánh H, Nguyễn Nhật Bảo T2 và Đỗ Thị Kim T1 là những người có mặt tại căn hộ B2 “OV” đều thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy do các bị cáo tổ chức, Công an quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với các đối tượng này là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến;

Đối với Kang Jae S, Kwon Tae K là những người cũng có mặt tại căn hộ B2 “OV”, qua thử test nước tiểu S (âm tính), K (dương tính với chất ma túy) nhưng cả hai đối tượng không sử dụng ma túy và không có vai trò gì trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hai đối tượng này là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến;

Đối với Phạm Hồng T4 là chủ sở hữu của căn hộ B2 “OV”, Nguyễn Thị Mỹ D là nhân viên quản lý, Nguyễn Thanh N1 là người môi giới cho thuê căn hộ B2 “OV”. Tất cả đều không biết việc nhóm của Kim Myeong J đến căn hộ và có sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT không đề cập việc xử lý đối với T4 và D, N1 là có phù hợp nên Hội đồng xét xử cũng không đề cập đến;

Về xử lý vật chứng: Đối với các vật chứng hiện nay Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ; Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau:

Đối với vật chứng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng thì tịch thu tiêu hủy.

Đối với vật chứng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nhưng có giá trị sử dụng thì tịch thu bán hóa giá sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với các vật chứng không liên quan đến việc phạm tội, có giá trị sử dụng thuộc sở hữu của các bị cáo thì tiếp tục quy trữ tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với các vật chứng là giấy tờ tùy thân của các bị cáo thì trả lại cho các bị cáo sử dụng.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Về án phí: Các bị cáo Kim Myeong J, Kim Young K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

I. Về tội danh:

Tuyên bố: Các bị cáo Kim Myeong J và Kim Young K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

II. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ: Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017);

Xử phạt: Bị cáo Kim Myeong J: 08 (tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 19/3/2023.

2.2. Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;Điều 58; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017);

Xử phạt: Bị cáo Kim Young K: 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 19/3/2023.

2.3. Hình phạt bổ sung:

2.3.1. Căn cứ khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Phạt tiền bổ sung Kim Myeong J và Kim Young K mỗi bị cáo 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) VND để sung vào ngân sách Nhà nước.

2.3.2. Căn cứ Điều 37 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Buộc: Trục xuất các bị cáo Kim Myeong J, Kim Young K phải rời khỏi lãnh thổ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù tại Việt Nam.

III. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên:

3.1. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 (một) mẫu hoàn trả sau giám định số 247/KLMT-KTHS ngày 24/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, bên trong có chứa mẫu ma túy và 02 (hai) bình kim loại màu xanh.

3.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các vật chứng gồm: 01 (một) loa màu đen hiệu Harman Kadon; 02 (hai) đèn laze, gồm 01 (một) đèn màu đen và 01 (một) đèn màu trắng và 01 (một) điện thoại di động có chữ Samsung của Kim Young K.

3.3. Tiếp tục quy trữ tạm giữ để đảm bảo thi hành án các vật chứng gồm:

* Số tiền 30.000 Won Hàn Quốc (không kiểm tra thật, giả); 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm ngàn đồng) VND và 02 (hai) điện thoại di động có chữ Samsung của bị cáo Kim Myeong J.

* Số tiền 1.000 USD (không kiểm tra thật, giả); 18.350.000 đồng (Mười tám triệu, ba trăm năm mươi ngàn đồng) VND của Kim Young K và 01 (một) điện thoại di động có chữ Iphone của Kim Young K.

3.4. Trả lại bị cáo cho Kim Myeong J các vật chứng gồm: 01 (một) bằng lái xe mang tên Kim Myeong J; 01 (một) thẻ Hoiana; 01 (một) thẻ Huyndai; 01 (một) thẻ Monachy;

3.5. Trả lại cho bị cáo Kim Young K các vật chứng gồm: 01 (một) thẻ OTP; 01 (một) thẻ Visa; 01 (một) thẻ Casino Dream Rom; 01 (một) thẻ Casino Prestige; 01 (một) thẻ Visa Hana Card; 01 (một) thẻ Vivax; 01 (một) thẻ Unionpay và 01 (một) thẻ ID Card.

Toàn bộ số vật chứng trên hiện Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/11/2023; Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 15/11/2023 và Biên bản giao nhận tài sản số: 15/2023/BBGN-KBĐN ngày 16/11/2023 giữa bên giao tài sản Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng với bên nhận tài sản Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng.

IV. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Kim Myeong J, Kim Young K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

V. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Cỡ chữ