vanban.org

Bản án 114/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lâm Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lâm Quốc T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/10/2017. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Quốc T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2018/HS-ST
Ngày: 09 - 7 - 2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Đoàn Văn Rỹ.

2/ Bà Lại Thị Đắc.

Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mai Ngọc Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 111/2018/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 126/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Lâm Quốc T; giới tính: Nam; sinh năm: 1968; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Không; chỗ ở: Không nơi ở nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; học vấn: 4/12; con ông Lâm Tấn A và bà Cao Thị H, có vợ Lê Thị N.

Tiền sự: Không.

Tiền án:

- Ngày 18/3/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 06 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2002.

- Ngày 24/9/2003, Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 05 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 29/9/2003 bị cáo kháng cáo đến ngày 05/11/2003 rút kháng cáo. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/3/2008.

- Ngày 17/8/2009, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp là chiếc xe gắn máy trị giá 2.280.000 đồng). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2012.

- Ngày 22/5/2013, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/6/2016.

Nhân thân:

- Ngày 05/01/1987, bị Công an Quận 3 bắt đưa đi cưỡng bức lao động 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản.

- Ngày 15/4/1989, bị Công an Quận 1 bắt đưa đi cưỡng bức lao động 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản.

- Ngày 29/05/1991, bị Công an Quận 1 bắt đưa đi cưỡng bức lao động 28 tháng về hành vi Cướp tài sản.

- Ngày 21/01/1992, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 18 tháng tù về tội “Lạm dụng chiếm đoạt tài sản của công dân” (tài sản bị chiếm đoạt không có định giá).

- Ngày 20/10/1993, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (tài sản bị chiếm đoạt không có định giá).

- Ngày 06/11/1995, Tòa án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (tài sản bị chiếm đoạt không định giá).

Bị bắt, tạm giam từ ngày 03/10/2017 cho đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn E, sinh năm 1959; nơi cư trú: 238 Lô E, chung cư H, Phường M, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/10/2017, Lâm Quốc T đi bộ đến trước số 040 Lô E, chung cư H, Phường M, Quận X thì phát hiện xe gắn máy hiệu Honda Future, biển số 59U1-965.92 của anh Nguyễn Văn E đang dựng trước nhà, xe không người trông coi và không khóa cổ nên T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên đem bán lấy tiền tiêu xài. T đi đến lấy xe và dắt bộ đi về hướng đường Hưng Phú, Phường M, Quận X thì bị anh Trần Văn S nhìn thấy tri hô, cùng quần chúng nhân dân đuổi theo bắt giữ T cùng vật chứng giao Công an Phường M, Quận X lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Ngày 11/10/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 8 kết luận: Trị giá 01 xe gắn máy Honda Future, biển số: 59U1-965.92 là 7.200.000 đồng.

Xe gắn máy Honda Future, biển số: 59U1-965.92 qua điều tra xác minh do anh Nguyễn Văn E đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã ra lập biên bản trao trả chiếc xe máy trên cho anh E. Anh E không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 118/CT-VKS ngày 23/5/2018 Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Lâm Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tại phiên tòa,

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 05 năm tù theo điểm c khoản 2 Điều 138, các điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã trả cho chủ sở hữu nên không đề cập giải quyết

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 03/10/2017, tại trước số 040 Lô E chung cư H, Phường M, Quận X, Lâm Quốc T phát hiện xe gắn máy hiệu Honda Future, biển số 59U1-965.92 của anh Nguyễn Văn E đang dựng trước nhà không người trông coi. T đã lén lút đến dẫn xe đi về hướng đường Hưng Phú thì bị người dân phát hiện và bắt giữ. Chiếc xe trị giá 7.200.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xét thấy, bị cáo bị kết án nhiều lần chưa được xóa án tích. Ngày 22/5/2013, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh kết án tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm. Bị cáo chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, tội phạm và hình phạt của bị cáo được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo các điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã trả cho chủ sở hữu nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lâm Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 138, các điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt bị cáo Lâm Quốc T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/10/2017.

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ