- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Anh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật hình sự giảm nhẹ
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2017/HSST Ngày: 21/6/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thạnh
2. Bà Nịnh Thị Tuyết Mai
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà– Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 107/2017/TLST-HS, ngày 29/5/2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2017/HSST-QĐ ngày 31/5/2017, đối với bị cáo:
Lê Anh Đ , Sinh năm: 1991; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Đăng ký NKTT: B, Tổ 12, Khu phố 4, phường An Phú Đ, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên Cha: Lê Văn c; Họ tên Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc H; Hoàn cảnh gia đình: Vợ: Hứa Thị Thu Th, có 01 người con, sinh 2016
- Nhân thân:
+ Ngày 02/02/2010, Tòa án nhân dân Quận 12 xử phạt 02 năm tù về tội “Có ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/6/2011.
+ Ngày 07/6/2012 chấp hành quyết định của UBND Quận 12 đưa vào Trường Giáo dục Đào tạo và Giải quyết việc làm số 3 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam ngày 24/3/2017.
*Người bị hại: Anh Nguyễn Thanh Ch , 1993
Thường trú: nhà không số, đường Chu Văn A, khu phố 3, phường Ba Đ, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
Chỗ ở: nhà không số, đường An Phú Đ 03, tổ 42, khu phố 5, phường An Phú Đ, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 24/3/2017, tên Quang (chưa xác định) rủ Lê Anh Đ đi trộm cắp tài sản, Đ đồng ý. Quang điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở Đ đến trước nhà không số, Tổ 43, Khu phố 5, phường An Phú Đông, Quận 12 thì phát hiện xe mô tô biển số 73E1 – 023.76 do anh Nguyễn Thanh Ch là chủ sở hữu đang dựng ở lề đường không người trông coi, chìa khóa cắm trong ổ khóa công tắc xe, Quang đứng ngoài cảnh giới để Đ đi bộ đến, mở khóa khởi động và điều khiển xe đi được khoảng 5 mét thì bị anh Ch phát hiện truy hô cùng quần chúng nhân dân bắt quả tang giao Công an phường An Phú Đông lập hồ sơ xử lý. Tên Quang điều khiển xe mô tô trốn thoát.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 73E1-023.76, theo kết luận định giá số 132/KLĐG ngày 29/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 12 có giá 8.920.000 đồng. Công an phường An Phú Đông đã trả cho anh Ch (BL19, 56).
Bản cáo trạng số 122/CTr-VKS, ngày 26/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố bị cáo Lê Anh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lê Anh Đ khai nhận hành vi trộm cắp tài sản là 01 xe mô tô hiệu Yamaha. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Biên bản phạm tội quả tang, các lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo; sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: Bị cáo Lê Anh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù;
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật vì bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi, có con nhỏ, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Để có tiền tiêu xài, Lê Anh Đ cùng đối tượng tên Quang (chưa rõ nhân thân, lai lịch) rủ nhau đi tìm người có tài sản mà sơ hở để chiếm đoạt. Thực hiện ý định đó, tên Quang dùng xe máy chở Lê Anh Đ đến Quận 12, phát hiện chiếc xe mô tô của anh Nguyễn Thanh Ch không người trông coi, Đ vào mở khóa lấy xe thì quần chúng nhân dân phát hiện bắt giữ, tên Quang điều kiển xe tẩu toát. Hành vi nêu trên của Lê Anh Đ đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, tội phạm được quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Theo kết luâ ̣n định giá tài sản số 122/CTr-VKS, ngày 26/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 12, xe mô tô hiệu Yamaha biển số 73E1-023.76 có giá 8.920.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu năm 2010 bị xử phạt 2 năm tù về tội cố ý gây thương tích, năm 2012 bị đưa vào Trường Giáo dục Đào tạo và Giải quyết việc làm số 3 để giáo dục, chữa bệnh trong thời gian 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hành vi của Lê Anh Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an địa phương.
Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục bị cáo thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời làm gương cho những người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét tình tiết, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi, bị có con nhỏ sinh năm 2016 để áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về các vấn đề khác:
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận được bồi thường và không yêu cầu bồi thường thêm. Hội đồng xét xử chấp nhận và không xem xét nữa.
Đối với tên Quang (chưa rõ nhân thân, lai lịch) Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lê Anh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Anh Đ : 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2017.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; (01) - VKSND Quâ ̣n 12; (02) - THADS Quâ ̣n 12; (02) - Phòng PC27 CA Tp. HCM; (01) - Công an Quâ ̣n 12; (02) - UBND nơi bị cáo cư trú; (01) - Bị cáo; (01) - Người tham gia tố tụng khác; (01) - Lưu hồ sơ vụ án. T 16/. (05) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Văn Nhất |