vanban.org

Bản án 112/2024/DS-ST — Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam

TAND TX. Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 09/08/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hoài T. Buộc ông Trịnh Ái V và bà Lâm Thị Bích V1 cùng liên đới có nghĩa vụ trả cho ông Lê Hoài T số tiền là 328.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày ông Lê Hoài T có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền trên thì hàng tháng ông Trịnh Ái V và bà Lâm Thị Bích V1 phải cùng liên đới có nghĩa vụ trả cho ông Lê Hoài T theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam — án dân sự — "Lê Hoài T - Trịnh Ái V, Lâm Thị Bích V1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hoài T. Buộc ông Trịnh Ái V và bà Lâm Thị Bích V1 cùng liên đới có nghĩa vụ trả cho ông Lê Hoài T số tiền là 328.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2024/DS-ST
Ngày: 09-8-2024.
V/v tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Sơn Khem;

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Khiết Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên toà: Không.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 117/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ông Lê Hoài T, sinh năm: 1989.

Địa chỉ: ấp T, xã V, thị xã V, Tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Diễm M, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Số 34, khóm T, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Trịnh Ái V, sinh năm: 1971 và bà Lâm Thị Bích V1, sinh năm: 1971.

Cùng địa chỉ: ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hoài T cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, do bà Trần Diễm M đại diện trình bày:

Trước đây, ông Nguyễn Duy Mận là chủ hộ kinh doanh T tại khóm S, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Nay ông M đã chấm dứt hoạt động kinh doanh tại hộ kinh doanh T và chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động kinh doanh trước đây của Hộ kinh doanh T cho ông Lê Hoài T theo văn bản thỏa thuận ngày 23/02/2023.

Từ ngày 13/02/2019 đến ngày 25/11/2019 ông Nguyễn Duy M (Chủ hộ kinh doanh T) có giao kết hợp đồng mua bán thức ăn thủy sản và thuốc thủy sản bằng văn bản với ông Trịnh Ái V, bà Lâm Thị Bích V1 thông qua hợp đồng bằng văn bản (tuy nhiên hiện nay đã thất lạc).

Theo đó các bên thống nhất thỏa thuận ông Mận (thông qua nhân viên hỗ trợ kỹ thuật nuôi tôm) có nghĩa vụ cung cấp thức ăn mang nhãn hiệu Việt Hoa và các loại thuốc và hóa chất phục vụ cho việc nuôi tôm theo đơn đặt hàng của ông Vân, bà Vân. Đơn giá được niêm yết tại cửa hàng và được xác định theo từng thời điểm và ghi nhận tại sổ giao nhận hàng. Hàng hóa được giao tại kho hàng và ông Vân, bà Vân đến lấy hoặc nhờ người đến lấy theo đơn đặt hàng. Sau khi nhận hàng thì tiến hành kiểm tra về số lượng, đơn giá, chất lượng, chủng loại sau khi thống nhất thì ký xác nhận vào sổ giao nhận hàng.

Về phương thức thanh toán hai bên thống nhất thỏa thuận ông Vân, bà Vân sẽ thanh toán cho ông Mận dứt điểm tiền nợ khi thu hoạch tôm. Trường hợp nuôi thất tôm vẫn phải thanh toán dứt điểm công nợ. Trong tường hợp nuôi tôm không thanh toán dứt công nợ ông Mận có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu vợ chồng ông Vân thanh toán hết tiền hàng. Ông Mận đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Sau khi nhận hàng vợ chồng ông Vân không phàn nàn về số lượng, chất lượng, chủng loại, đơn giá sản phẩm. Tuy nhiên sau khi thu hoạch tôm thì không thanh toán dứt điểm tiền hàng, do đó ông Mận đã ngưng cung cấp hàng hóa. Hai bên nhưng giao dịch từ ngày 25/11/2019 khi đó vợ chồng ông Vân còn nợ lại số tiền 372.293.000 đồng, tính đến ngày 18/3/2021 ông bà đã thanh toán 127.000.000 đồng, số tiền còn nợ lại 245.293.000 đồng. Tuy nhiên qua nhiều lần liên hệ ông Vân, bà Vân không thiện ý thanh toán.

Tại phiên tòa, bà M đại diện cho ông Lê Hoài T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Trịnh Ái V và bà Lâm Thị Bích V1 liên đới thanh toán tiền nợ cho ông Lê Hoài T là 328.454.889 đồng. Trong đó: Số tiền nợ thức ăn và thuốc thủy sản là 245.293.000 đồng và lãi suất chậm thanh toán là 10%/năm/245.293.000 đồng từ ngày 18/3/2021 đến ngày 09/8/2024 là 03 năm 04 tháng 21 ngày với số tiền 83.161.889 đồng. Không yêu cầu tính thêm tiền lãi từ sau ngày xét xử sơ thẩm đến ngày bản án có hiệu lực.

* Đối với bị đơn ông Trịnh Ái V và bà Lâm Thị Bích V1:

Trong quá trình giải quyết vụ án không phản đối, không phản tố, không yêu cầu gì khác trong vụ án và không tham gia tố tụng mặc dù đã nhận được tất cả các văn bản tố tụng của Toà án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

1.1. Tại phiên tòa các bị đơn ông Trịnh Ái V và bà Lâm Thị Bích V1 vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án cho các bị đơn; Bà M đồng ý xét xử vắng mặt các bị đơn nên sau khi hội ý tại chỗ, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt các bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thời hiệu khởi kiện: Do các bên không yêu cầu Toà án áp dụng thời hiệu nên không đặt ra xem xét về thời hiệu khởi kiện.

Về nội dung vụ án:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn (có kèm theo tài liệu, chứng cứ là Sổ gốc giao nhận hàng hoá có chữ ký của người nhận là phía bị đơn cùng lời trình bày của người đại diện của nguyên đơn tại phiên toà có đủ căn cứ để chứng minh rằng các bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 328.454.889 đồng là đúng sự thật. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án các bị đơn không phản đối, không phản tố, không yêu cầu gì khác và không tham gia tố tụng mặc dù đã nhận được tất cả các văn bản tố tụng của Toà án nên căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự các bên đương sự không cần phải chứng minh.

Việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày 18/3/2021 đến ngày 09/8/2024 là 03 năm 04 tháng 21 ngày với lãi suất 10%/năm/245.293.000 đồng với số tiền 83.161.889 đồng, bị đơn không phản đối và yêu cầu này phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận toàn bộ.

Từ những phân tích ở Mục [2] là có căn cứ để buộc ông Trịnh Ái V và bà Lâm Thị Bích V1 cùng liên đới có nghĩa vụ trả cho ông Lê Hoài T số tiền còn nợ là 328.454.889 đồng là phù hợp với quy định tại các điều 357, 430, 440 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi tiếp theo kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm đến ngày bản án có hiệu lực nên không đặt ra xem xét.

Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên các bị đơn phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn ông Lê Hoài T không chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 357, 430, 440 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hoài T. Buộc ông Trịnh Ái V và bà Lâm Thị Bích V1 cùng liên đới có nghĩa vụ trả cho ông Lê Hoài T số tiền là 328.454.889 đồng (Ba trăm hai mươi tám triệu bốn trăm năm mươi bốn nghìn tám trăm tám mươi chín đồng). Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi tiếp theo kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm đến ngày bản án có hiệu lực nên không đặt ra xem xét.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày ông Lê Hoài T có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền trên thì hàng tháng ông Trịnh Ái V và bà Lâm Thị Bích V1 phải cùng liên đới có nghĩa vụ trả cho ông Lê Hoài T theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc ông Trịnh Ái V và bà Lâm Thị Bích V1 phải cùng liên đới có nghĩa vụ chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 16.422.744 đồng (Mười sáu triệu bốn trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi bốn đồng).

- Ông Lê Hoài T không chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Lê Hoài T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.983.946 đồng (Bảy triệu chín trăm tám mươi ba nghìn chín trăm bốn mươi sáu đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004780 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ