vanban.org

Bản án 111/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - An Giang , tỉnh An Giang Tuyên án 01/06/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trương Hoàng K mức án 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giữ ngày 05/11/2025. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Hoàng K - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2026/HS-ST
Ngày: 01/06/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1

TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Huỳnh Tất Ngọc Trân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Hà Thị Thuỷ

2/ Ông Vũ Định Trường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Bắc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đông Vũ- Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 06 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 64/2026/TLST-HS ngày 01 tháng 04 năm 2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2026/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 05 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2026/QĐHPT-HS và Thông báo mở lại phiên tòa số 109/2026/TB-TA ngày 25 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Hoàng K, sinh ngày 07/05/1992, nơi đăng ký thường trú: Số 597/61/15 khu phố Nam Cao, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang, nghề nghiệp: làm thuê, trình độ học vấn: 08/12; giới tính: nam, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không. Cha: Trương Ngọc Đ (đã chết); mẹ: Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1969, vợ: Lê Thị Thuý A, sinh năm: 1997.(đã ly hôn).

Tiền án, tiền sự: Không có.

Ngày 15/11/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Ngày 28/4/2016 chấp hành xong hình phạt, hiện đã xóa án tích.

Bị can được áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 05/11/2025 đến ngày 14/11/2025 chuyển tạm giạm đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh An Giang.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến:

1/ Phan Huy P, sinh năm: 1985.(vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 5, khu phố Dãy Ốc, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang.

2/ Nguyễn Hữu P, sinh năm: 1999.(vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 3, phường Vĩnh Thông, tỉnh An Giang.

* Vật chứng đưa ra xem xét tại phiên tòa: Không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 05 phút ngày 05/11/2025, tại khu vực ngã ba đường Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Văn Cừ thuộc phường Rạch Giá, tỉnh An Giang, lực lượng Công an phường Rạch Giá phát hiện và bắt quả tang Trương Hoàng K về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy cùng tang vật là 02 bịch ma túy đá được K cất giấu trong túi vải màu đen gắn trên chìa khóa xe đang điều khiên (bút lục số: 01

- 02).

Quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 03/11/2025, K mua ma túy của một đối tượng tên L (chưa xác định được nhân thân) tại khu vực gần cầu số 1 thuộc phường Rạch Giá với số tiền 2.000.000 đồng để sử dụng. Sau khi về nhà ở địa chỉ 597/61/15 khu phố Nam Cao, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang, K lấy 01 ít ma túy ra sử dụng một mình; Số ma túy còn lại K chia thành 02 bịch nhỏ và giấu trong túi vải màu đen được gắn chung với chìa khóa xe mô tô của K. Đến khoảng 12 giờ 05 phút ngày 05/11/2025, K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68 T5-8612 đi tìm nơi để sử dụng ma túy, khi đi đến khu vực ngã ba đường Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Văn Cừ thì bị lực lượng Công an phường Rạch Giá kiểm tra và bắt quả tang K về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy cùng tang vật. Kết luận giám định số 1177/KL-KTHS ngày 11/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang xác định số lượng ma túy thu được trong vụ án qua giám định là ma túy loại Methamphetamine khối lượng là 6,9718 gam (bút lục: 01 - 02, 15, 78, 93-94).

Ngày 14/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công tỉnh An Giang khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Trương Hoàng K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trương Hoàng K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, người chứng kiến thống nhất với diễn biến sự việc như đã nêu trên.

*Các đồ vật, tài liệu đã thu giữ trong vụ án:

- 02 (hai) bịch nylon trong suốt, được hàn kín, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất;

- 01 (một) túi vải màu đen gắn cùng 02 chiếc chìa khoá;

- 01 (một) xe mô tô màu đen biển kiểm soát: 68T5-8612, nhãn hiệu Yamaha, loại Mio class đã qua sử dụng xe của bị cáo Trương Hoàng K.

* Tại Kết luận giám định số: 1177/KL-KTHS ngày 11/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang kết luận:

Mẫu ký hiệu M (02 (hai) bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất (nghi là chất ma tuý) được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 6,9718 gam (bút lục số 32).

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIB, STT 267, Nghị định 28/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 của Chính phủ.

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với các kết luận giám định nêu trên.

* Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSKV1-AG ngày 31 tháng 03 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- An Giang đã truy tố bị cáo Trương Hoàng K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử về tội danh và hình phạt áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Trương Hoàng K mức án từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định gồm: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (ghi vụ số: 2138) có chữ ký của: Giám định viên Nguyễn Hoàng Nam; Người chứng kiến niêm phong Huỳnh Văn Luân và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, bên trong gồm: Mẫu vật ký hiệu M còn lại sau giám định có khối lượng là 6,8229 gam, được đựng trong 02 bịch nylon và bao gói, vật đựng mẫu;

Đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước:

- 01 (một) túi vải, màu đen cùng với 02 chiếc chìa khóa, đã qua sử dụng;

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Mio, màu đen biển kiểm soát: 68T5-8612, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô này là tài sản của bị can Trương Hoàng K, vào ngày 03/11/2025 K sử dụng xe này để đi mua ma túy và sau khi sử dụng trái phép chất ma túy xong K còn cất giấu 02 bịch ma túy trong túi vải màu đen gắn trên chìa khóa xe. Xét thấy bị can K sửdụng chiếc xe này để thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nên đề nghị tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 15/QĐ-VKSKV1-AG, ngày 31/03/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- An Giang.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.

*Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Trương Hoàng K xin được giảm nhẹ hình phạt tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh An Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Trương Hoàng K và những chứng cứ xác định bị cáo có tội:

Vào khoảng 12 giờ 05 phút ngày 05/11/2025, tại khu vực ngã ba đường Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Văn Cừ thuộc phường Rạch Giá, tỉnh An Giang, lực lượng Công an phường Rạch Giá phát hiện và bắt quả tang Trương Hoàng K về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy cùng tang vật là 2 bịch ma túy đá, qua giám định là ma túy loại Methamphetamine khối lượng là 6,9718 gam. Nguồn ma túy là do K mua của một đối tượng tên L ở phường Rạch Giá với số tiền 2.000.000 đồng nhằm mục đích sử dụng cá nhân.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trương Hoàng K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 như truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét về nhân thân, hành vi, động cơ, tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của bị cáo: Xét thấy bị cáo Trương Hoàng K là người có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Ngày 28/4/2016 chấp hành xong hình phạt, hiện đã xóa án tích. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy; bị cáo nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng ma túy là gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của con người, nó cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an trong khu vực, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý. Tại phiên toà hôm nay bị cáo thừa nhận tự thực hiện hành vi phạm tội, không có ai xúi giục, rủ rê bị cáo, mục đích mua ma tuý của bị cáo là nhằm mục đích sử dụng cá nhân. Nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, do đó sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo bằng mức án của khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm tuyên truyền, phòng ngừa chung. Theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Hoàng K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Hoàng K trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- An Giang tại phiên tòa về việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định gồm: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (ghi vụ số: 2138) có chữ ký của: Giám định viên Nguyễn Hoàng Nam; Người chứng kiến niêm phong Huỳnh Văn Luân và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, bên trong gồm: Mẫu vật ký hiệu M còn lại sau giám định có khối lượng là 6,8229 gam, được đựng trong 02 bịch nylon và bao gói, vật đựng mẫu; Đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước:

- 01 (một) túi vải, màu đen cùng với 02 chiếc chìa khóa, đã qua sử dụng;

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Mio, màu đen biển kiểm soát: 68T5-8612, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô này là tài sản của bị can Trương Hoàng K, vào ngày 03/11/2025 K sử dụng xe này để đi mua ma túy và sau khi sử dụng trái phép chất ma túy xong K còn cất giấu 02 bịch ma túy trong túi vải màu đen gắn trên chìa khóa xe. Xét thấy bị can K sửdụng chiếc xe này để thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nên đề nghị tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 15/QĐ-VKSKV1-AG, ngày 31/03/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- An Giang.

Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên L đã bán ma tuý cho bị cáo K (chưa xác định được họ tên, nhân thân, địa chỉ), Cơ quan Cảnh sát điều tra phải tiếp tục điều tra làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm d mục 1.2 phần II Danh mục án phí của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

- Xử phạt bị cáo Trương Hoàng K mức án 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giữ ngày 05/11/2025.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định gồm:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định gồm: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (ghi vụ số: 2138) có chữ ký của: Giám định viên Nguyễn Hoàng Nam; Người chứng kiến niêm phong Huỳnh Văn Luân và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, bên trong gồm: Mẫu vật ký hiệu M còn lại sau giám định có khối lượng là 6,8229 gam, được đựng trong 02 bịch nylon và bao gói, vật đựng mẫu; Đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước:

- 01 (một) túi vải, màu đen cùng với 02 chiếc chìa khóa, đã qua sử dụng;

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Mio, màu đen biển kiểm soát: 68T5-8612, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô này là tài sản của bị can Trương Hoàng K, vào ngày 03/11/2025 K sử dụng xe này để đi mua ma túy và sau khi sử dụng trái phép chất ma túy xong K còn cất giấu 02 bịch ma túy trong túi vải màu đen gắn trên chìa khóa xe. Xét thấy bị can K sửdụng chiếc xe này để thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nên đề nghị tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 15/QĐ-VKSKV1-AG, ngày 31/03/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- An Giang.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm d mục 1.2 phần II Danh mục án phí của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/06/2026).

Cỡ chữ