vanban.org

Bản án 111/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Gia A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lưu Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng MT - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2025/HS-ST
Ngày 24/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lâm Viên Đức

2. Bà Lâm Ngọc Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thanh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Trúc Giang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2025, tại Phòng xử án hình sự, Tòa án nhân dân khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 99/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lưu Văn T (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 13/3/1997, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: xx Âu Cơ, Phường x, Quận x (nay là phường Hòa Bình), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn Long và bà Đỗ Thị Thu Mai; tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 18/8/2021 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian là 18 tháng, theo Quyết định số 252/QĐ-TA; bị bắt tạm giữ từ ngày 28/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 03/01/2025, tại Trại Tạm giam Chí Hòa – Phân trại tạm giam khu vực Quận 11; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Đỗ Gia A (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 20/02/1997, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: 31/5 Âu Cơ, Phường 9, quận Tân Bình (nay là phường Tân Hòa), Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: xx Âu Cơ, Phường x, Quận x (nay là phường Hòa Bình), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Xương Phi và bà Đỗ Thụy Phương Anh (chết); tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 28/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 03/01/2025, tại Trại Tạm giam Chí Hòa – Phân trại tạm giam khu vực Quận 5; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lý Chí C, sinh năm 1996; địa chỉ: 2 Đường số 12, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân (nay là phường Bình Trị Đông), Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 28/12/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 11 tiến hành khám xét khẩn cấp nhà số xx Âu Cơ, Phường x, Quận x (nay là phường Hòa Bình), Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả phát hiện và thu giữ tại phòng ngủ của đối tượng Lưu Văn T, Đỗ Gia A 01 gói ni lon chứa chất tinh thể; đối tượng T và A khai là ma túy. Đồng thời, đối tượng T khai nhận có cho đối tượng Lý Chí C ma túy để sử dụng vào ngày 26/12/2024. Công an đã đưa các đối tượng về Công an Phường 5, Quận 11 lập biên bản phạm tội quả tang. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ bao gồm:

- Một gói ni long chứa ma túy. Bản kết luận giám định số 902/KL ngày 05/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận là ma túy có khối lượng 0,2929 gam, loại Methamphetamine.

- Một hộp giấy, một quẹt gas, một bình gas mini, một đoạn ống nhựa, là dụng cụ bị can T và Ân cùng sử dụng ma túy.

- Một điện thoại di động hiệu Samsung M21 màu đen, là tài sản riêng của bị can A.

- Một điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đen bạc, là phương tiện bị can T liên lạc mua ma túy.

- Một xe cub màu xám, biển số 52N4-6716, là tài sản riêng của bị can T mua năm 2013, không làm giấy tờ. Qua xác minh, xe trên do bà Trần Thị Thu H đứng tên chủ sở hữu. Hiện bà H không có mặt tại nơi cư trú, đi đâu không rõ.

Tại Cơ quan điều tra, các bị can Lưu Văn T và Đỗ Gia A và đối tượng Lý Chí C khai nhận như sau: Bị can T và bị can A sống chung như vợ chồng tại địa chỉ xx Âu Cơ, Phường x, Quận x (nay là phường Hòa Bình), Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 28/12/2024, do cần sử dụng ma túy, bị can T và bị can A thỏa thuận hùn tiền mỗi người 150.000 đồng mua ma túy để sử dụng chung. Bị can T liên lạc với tài khoản Zalo “không thể quên" (không rõ lai lịch) đặt mua ma túy với giá 300.000 đồng. Sau đó, đối tượng trên đến nhà của bị can T giao ma túy. Bị can T cất giấu ma túy dưới hộp giấy sau cửa phòng ngủ thì bị phát hiện, bắt giữ. Trước đó, bị can T và bị can A đã 04 lần hùn tiền mua ma túy sử dụng chung tại nhà trên bằng cách thức đốt rồi hút trực tiếp.

Ngoài ra, ngày 26/12/2024, bị can T và bị can A thỏa thuận hùn tiền mỗi người 150.000 đồng để mua ma túy sử dụng chung; tuy nhiên, sau khi bị can T mua ma túy thì đối tượng Lý Chí C, là bạn ngoài xã hội của bị can T, gọi điện thoại cho bị can T nhờ đặt mua ma túy với giá 200.000 đồng. Bị can T nói do là bạn bè nên bị can T sẽ cho đối tượng ma túy để sử dụng, không lấy tiền. Trước khi cho đối tượng C ma túy, bị can T có nói cho bị can A biết, bị can A đồng ý. Sau đó, đối tượng C đến nhà của bị can T mang ma túy đi về tự một mình sử dụng như thế nào thì bị can T và bị can A không biết rõ.

Tại Bản cáo trạng số 66/CT-VKSKV3 ngày 21/8/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 truy tố bị can Lưu Văn T và bị can Đỗ Gia A tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn T và bị cáo Đỗ Gia A có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Lý Chí C vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo như sau:

- Đề nghị xử phạt bị cáo Lưu Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, đề nghị buộc bị cáo phải chấp hành mức hình phạt chung là từ 09 năm đến 10 năm tù.

- Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Gia A từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, đề nghị buộc bị cáo phải chấp hành mức hình phạt chung là từ 08 năm đến 09 năm tù.

Kiểm sát viên đề nghị xử lý vật chứng như sau:

- Tịch thu tiêu hủy một gói ni long chứa ma túy.

- Tịch thu tiêu hủy một hộp giấy, một quẹt gas, một bình gas mini, một đoạn ống nhựa.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước một điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đen bạc.

- Trả lại cho bị cáo Đỗ Gia A một điện thoại di động hiệu Samsung M21 màu đen.

- Tiếp tục truy tìm chủ sở hữu của chiếc xe mô tô, biển số 52N4-6716. Trong trường hợp không truy tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 28/12/2024, tại nhà số xx Âu Cơ, Phường x, Quận x (nay là phường Hòa Bình), Thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo Lưu Văn T và Đỗ Gia A đã có hành vi cất giấu ma túy với khối lượng là 0,2929 gam, loại Methamphetamine để sử dụng.

Trước đó, ngày 26/12/2024, các bị cáo Lưu Văn T và Đỗ Gia A đã có hành vi cung cấp ma túy cho Lý Chí C sử dụng.

Ngoài ra trước đó, hai bị cáo Lưu Văn T và Đỗ Gia A đã 04 lần cùng hùn tiền mua ma túy để cùng nhau sử dụng tại địa chỉ nhà số xx Âu Cơ, Phường x, Quận x (nay là phường Hòa Bình), Thành phố Hồ Chí Minh.

Lời khai của các bị cáo Lưu Văn T, Đỗ Gia A về việc có sử dụng chất ma túy phù hợp với kết quả xét nghiệm chất ma túy qua nước tiểu của các bị cáo do Bệnh viện Quận 11 thực hiện vào ngày 28/12/2024.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 và Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm, tuy nhiên đó chỉ là sự câu kết giản đơn, các bị cáo tự hành động theo cá nhân, không có sự bàn bạc cách thức, phân công từ trước, không có sự câu kết chặt chẽ giữa các bị cáo. Bị cáo T là người liên lạc để mua ma túy về cho bị cáo và bị cáo A cùng cất giấu để cùng sử dụng và chủ động cung cấp ma túy để cho đối tượng Lý Chí C sử dụng; do đó, hành vi của bị cáo T là nguy hiểm hơn bị cáo A nên phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo A. Bị cáo A tham gia phạm tội với vai trò đồng phạm, cùng hùn tiền với bị cáo T để mua ma túy về cất giấu để cùng sử dụng; bị cáo biết rõ và đồng ý để bị cáo T cho ma túy cho đối tượng Lý Chí C để sử dụng.

Các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao bị Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển. Song do nghiện ma túy và muốn thỏa mãn cơn nghiện, các bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất gây nghiện, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, chống lại chủ trương bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục các bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Các bị cáo tàng trữ chất ma túy là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0.2929 gam (không phẩy hai chín hai chín gam) nên thuộc trường hợp phạm tội quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Các bị cáo cùng hùn tiền mua ma túy về cùng sử dụng bốn lần và một lần cung cấp ma túy cho đối tượng Lý Chí C sử dụng vào ngày 26/12/2024 nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về xem xét không phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo:

Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có điều kiện thi hành án nên Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự để xử phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là một gói niêm phong ghi vụ số 473/25 chứa ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

Đối với vật chứng là một hộp giấy, một quẹt gas, một bình gas mini, một đoạn ống nhựa, là dụng cụ do các bị cáo T và Ân sử dụng ma túy, là dụng cụ dùng để phạm tội; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đen bạc, là phương tiện bị cáo T liên lạc mua ma túy; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Samsung M21 màu đen, là tài sản riêng của bị cáo A không sử dụng vào việc phạm tội; căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo Đỗ Gia A.

Đối với vật chứng là một xe cub màu xám, biển số 52N4-6716, là tài sản do bị cáo T mua năm 2013, không làm giấy tờ. Bị cáo sử dụng tài sản trên vào việc phạm tội. Qua xác minh, xe trên do bà Trần Thị Thu H đứng tên chủ sở hữu. Hiện bà H không có mặt tại nơi cư trú, đi đâu không rõ. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe nêu trên chưa xác định được chủ sở hữu và người quản lý hợp pháp nên giải quyết giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của chiếc xe nêu trên trong thời hạn luật định thì giải quyết tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lưu Văn T và bị cáo Đỗ Gia A, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra, kiểm sát viên được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xem xét vai trò, trách nhiệm của đối tượng có liên quan trong vụ án:

Đối với đối tượng có tên tài khoản Zalo “không thể quên” là người đã bán ma túy cho bị cáo Lưu Văn T, do không xác định được lai lịch của đối tượng nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm là có căn cứ; khi điều tra, truy xét được sẽ xử lý sau.

Đối với đối tượng Lý Chí C được bị cáo Lưu Văn T và Đỗ Gia A cho ma túy sử dụng, đối tượng C không tham gia hùn tiền, không cùng sử dụng chung ma túy với bị cáo T và bị cáo A, Công an đã chuyển cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; Điều 55; Điều 58; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lưu Văn T;

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; Điều 55; Điều 58; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đỗ Gia A;

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Gia A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lưu Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/12/2024.

Xử phạt bị cáo Đỗ Gia A 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/12/2024.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là một gói niêm phong ghi vụ số 473/25 (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1995/LNK-CSMT-Q11 ngày 14/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra).

Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là một hộp giấy, một quẹt gas, một bình gas mini, một đoạn ống nhựa (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1995/LNK-CSMT-Q11 ngày 14/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra).

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước vật chứng là một điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đen bạc (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1995/LNK-CSMT-Q11 ngày 14/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra).

Trả lại cho bị cáo Đỗ Gia A vật chứng là một điện thoại di động hiệu Samsung M21 màu đen (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1995/LNK-CSMT-Q11 ngày 14/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra).

Giao cho Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với một xe cub màu xám, biển số 52N4-6716. Quá thời hạn trên kể từ ngày Phòng thi hành án dân sự khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1995/LNK-CSMT-Q11 ngày 14/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ