vanban.org

Bản án 111/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Trung Tr, Võ Văn Chí L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: 1 Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "T-L - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Trung Tr, Võ Văn Chí L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2023/HS-ST
Ngày 24-11-2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Kim Niệm;

Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa: Ông Tống Phi Hùng, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (là điểm cầu trung tâm) xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Trung Tr, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Tổ a, khu phố b, thị trấn P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh T và bà Huỳnh Thị G; bị cáo có vợ tên Đỗ Thị Huyền T, sinh năm 1999; bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2023 cho đến nay, có mặt.

2. Họ và tên: Võ Văn Chí L, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ T, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn C và bà Nguyễn Thị Th;

Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 27/5/2020, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 111/2020/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/01/2021.

Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2023 cho đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Trung Tr: Ông Lê Văn M, Luật sư – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà Trần Kim Ng, sinh năm 2001; vắng mặt.

2. Ông Trần Tấn H, sinh năm 1991; vắng mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác ở điểm cầu thành phần: Ông Huỳnh Q A, ông Trương M T là Chiến sỹ Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an huyện Phú Giáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ ngày 21/5/2023, Trần Trung Tr đi bộ đến phòng trọ của Võ Văn Chí L tại khu phố c, thị trấn P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương chơi. Tại đây, Tr hỏi mượn điện thoại của L để lên mạng xã hội facebook hỏi mua ma túy của một người tên T A (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 200.000 đồng thì L đồng ý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, có một người đàn ông điều khiển xe mô tô (không rõ nhân thân lai lịch và biển số) đến trước phòng trọ của L, thấy vậy Tr đi ra thì thấy người đàn ông vứt một hộp thuốc lá bên trong có chứa gói ma túy dưới bãi đất trống, Tr đến nhặt hộp thuốc lên rồi thanh toán cho người đàn ông 200.000 đồng tiền ma túy và 100.000 đồng tiền phí giao hàng. Sau đó, Tr đem ma túy vào phòng trọ của L, L lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra để sử dụng cùng với Tr. Khi sử dụng còn một ít ma túy trong nỏ thủy tinh thì L và Tr không sử dụng nữa mà đem cất giấu ở bao ve chai trước phòng trọ của L, xong Tr đi về nhà. Đến khoảng 14 giờ ngày 22/5/2023, Tr tiếp tục đi bộ đến phòng trọ của L chơi, một lúc sau Trần Kim Ng cũng đến chơi và hỏi L, Tr “có ma túy không” thì L, Tr trả lời “không có”. Lúc này Ng rủ L và Tr hùn tiền để mua ma túy nhưng L, Tr từ chối do không có tiền nên tất cả ra về. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Tr quay lại phòng của L chơi thì gặp Ng cũng vừa mới đến, lúc này Tr nói còn một ít ma túy trong nỏ ngày hôm qua lấy ra để sử dụng thì L và Ng đồng ý. Khi L, Ng, Tr đang sử dụng ma túy thì Trần Tấn H đến chơi, thấy vậy L rủ H cùng sử dụng ma túy thì H đồng ý. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, trong lúc L, H, Ng, Tr đang sử dụng ma túy thì bị Công an thị trấn P phát hiện bắt quả tang và mời về trụ sở để làm việc. Do hoảng sợ khi thấy lực lượng công an nên H cầm nỏ thủy tinh chạy vào nhà vệ sinh làm nỏ thủy tinh bị bể. Do đó, Công an không thu giữ được ma túy trong nỏ thủy tinh.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ:

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 (một) chai nhựa màu trắng bên trong có chứa nước trong suốt trên chai có chữ Sting màu đỏ, 01 (một) ống hút màu trắng được gắn vào nắp chai nhựa, 01 (một) ống thủy tinh được gắn vào nắp chai nhựa dùng để đốt ma túy (bị bể).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng của Võ Văn Chí L.

Tại bản Cáo trạng số 116/CT-VKSPG, ngày 13/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố các bị cáo Trần Trung Tr, Võ Văn Chí L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- Các điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Trung Tr từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

- Các điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Văn Chí L từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 (một) chai nhựa màu trắng bên trong có chứa nước trong suốt trên chai có chữ Sting màu đỏ, 01 (một) ống hút màu trắng được gắn vào nắp chai nhựa, 01 (một) ống thủy tinh được gắn vào nắp chai nhựa dùng để đốt ma túy (bị bể). Xét thấy đây là dụng cụ dùng phạm việc phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng. Qua xác minh được biết chiếc điện thoại trên do Võ Văn Chí L là chủ sở hữu. Ngày 21/5/2023, Trần Trung Tr hỏi mượn điện thoại di động của Võ Văn Chí L với mục đích hỏi mua ma túy của một người tên Tùng Anh, L cũng biết mục đích của Tr. Do đó, chiếc điện thoại là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa, các bị cáo trình bày khoảng 18 giờ ngày 21/5/2023, Trần Trung Tr đem ma túy vào phòng trọ của Võ Văn Chí L, L lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra để sử dụng cùng với Tr. Khi sử dụng còn một ít ma túy trong nỏ thủy tinh thì L và Tr không sử dụng nữa mà đem cất giấu ở bao ve chai trước phòng trọ của L, xong Tr đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ ngày 22/5/2023, lực lượng Công an thị trấn P phát hiện Trần Trung Tr có hành vi chuẩn bị ma túy, Võ Văn Chí L có hành vi chuẩn bị địa điểm, dụng cụ để tổ chức cho Tr, L, Trần Kim Ng và Trần Tấn H cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo thống nhất với tội danh, mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị và không có ý kiến khác.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Trung Tr tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung vì quá trình điều tra đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là không tiến hành giám định chất ma túy, khối lượng ma túy có trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Kiểm sát viên tranh luận: Quá trình bắt quả tang thì ma túy bỏ trong nỏ thủy tinh đã bị các bị cáo và Ng, H làm bể do vậy không còn ma túy trong nỏ thủy tinh. Do vậy, cơ quan điều tra không có chất ma túy để trưng cầu giám định. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến tranh luận của người bào chữa.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Trung Tr: Bị cáo đã vi phạm pháp luật, ăn năn, hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo Võ Văn Chí L: Bị cáo đã vi phạm pháp luật, ăn năn, hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Trung Tr, Võ Văn Chí L khai nhận: khoảng 18 giờ ngày 21/5/2023, Trần Trung Tr đem ma túy vào phòng trọ của Võ Văn Chí L, L lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra để sử dụng cùng với Tr. Khi sử dụng còn một ít ma túy trong nỏ thủy tinh thì L và Tr không sử dụng nữa mà đem cất giấu ở bao ve chai trước phòng trọ của L, xong Tr đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ ngày 22/5/2023, lực lượng Công an thị trấn P phát hiện Trần Trung Tr có hành vi chuẩn bị ma túy, Võ Văn Chí L có hành vi chuẩn bị địa điểm, dụng cụ để tổ chức cho Tr, L, Trần Kim Ng và Trần Tấn H cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi của các bị cáo Trần Trung Tr, Võ Văn Chí L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[3] Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố các bị cáo Trần Trung Tr, Võ Văn Chí L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây tổn hại đến sức khỏe của bản thân các bị cáo và những người khác mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác. Xét động cơ, mục đích phạm tội vì thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân và những người khác mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật, hậu quả gây ra cho xã hội thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tr không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo L có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích mà phạm tội nên bị cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Tr là hộ nghèo nên được HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[8] Vụ án này có tính chất đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, trong đó các bị cáo đều giữ vai trò là người thực hành.

[9] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, mức hình phạt đối với bị cáo Võ Văn Chí L là hơi nặng trong khi vai trò của bị cáo ngang với bị cáo Trần Trung Tr nên Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[10] Xét ý kiến của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung vì quá trình điều tra đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là không tiến hành giám định chất ma túy, khối lượng ma túy có trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy là không có căn cứ. Bởi lẽ quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai ma túy các bị cáo bỏ trong nỏ thủy tinh, quá trình bắt quả tang nỏ thủy tinh đã bị bể do vậy không có ma túy trong nỏ thủy tinh cũng như trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Do vậy, cơ quan điều tra không tiến hành trưng cầu giám định là phù hợp.

[11] Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 (một) chai nhựa màu trắng bên trong có chứa nước trong suốt trên chai có chữ Sting màu đỏ, 01 (một) ống hút màu trắng được gắn vào nắp chai nhựa, 01 (một) ống thủy tinh được gắn vào nắp chai nhựa dùng để đốt ma túy (bị bể). Xét thấy đây là dụng cụ dùng phạm việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng. Qua xác minh được biết chiếc điện thoại trên do Võ Văn Chí L là chủ sở hữu. Ngày 21/5/2023, Trần Trung Tr hỏi mượn điện thoại di động của Võ Văn Chí L với mục đích hỏi mua ma túy của một người tên Tùng Anh, L cũng biết mục đích của Tr. Do đó, chiếc điện thoại là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Trung Tr, Võ Văn Chí L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1 Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Trung Tr 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/5/2023.

2.2 Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Văn Chí L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/5/2023.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 (một) chai nhựa màu trắng bên trong có chứa nước trong suốt trên chai có chữ Sting màu đỏ, 01 (một) ống hút màu trắng được gắn vào nắp chai nhựa, 01 (một) ống thủy tinh được gắn vào nắp chai nhựa dùng để đốt ma túy (bị bể).

- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Trần Trung Tr, Võ Văn Chí L, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Cỡ chữ