- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung phạm tội “ Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2021/HSST Ngày 15 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoằng; ông Đặng Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Hoa - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2021/HSST ngày 19 tháng 11 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2021/QĐXX-HS ngày 03 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
+ Lê Văn V, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn Tả H, xã Văn L, huyện Lý Nh, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Phạm Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền sự: không;
Tiền án:
Ngày 31/10/2017, bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/10/2018
Ngày 10/3/2020, bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/5/2021, chưa được xóa án tích;
Nhân thân: Ngày 15/6/1999, bị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên (nay là thị xã Duy Tiên), tỉnh Hà Nam xử phạt 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản của công dân" theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985. Ngày 06/02/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm về tội "Hiếp dâm" theo khoản 4 Điều 111 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 26/9/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 17/01/2012, bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; bị tạm giữ ngày 02/9/2021 chuyển tạm giam từ ngày 08/9/2021 đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam (có mặt).
* Ngƣời chứng kiến: Bà Lê Thị Th sinh năm 1954, anh Lê Ngọc H sinh năm 1984 (đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 10 phút ngày 01/9/2021, tổ công tác của Công an xã Tiên Sơn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại thôn Đọi Tín, xã Tiên Sơn, phát hiện, bắt quả tang Lê Văn V đang có hành vi cất giấu trái phép 01 túi nilon màu đen, bên trong có 01 lọ nước cất và 01 gói giấy (loại tờ lịch), bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục, bột (Lê Văn V khai là ma túy Heroine). Tổ công tác đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và chuyển Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên giải quyết theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon màu đen, bên trong có 01 gói giấy (loại tờ lịch) KT(1,5x1,4)cm, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục, bột và 01 lọ nước cất, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01. Khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Lê Văn V không thu giữ gì.
Kết luận giám định số 201/PC09-MT ngày 07/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,050g, loại Heroine.
Về nguồn gốc ma túy, Lê Văn V khai nhận: Khoảng 20h ngày 01/9/2021, trong lúc V đang ở nhà thì có một người bạn tên B, khoảng 40 tuổi (do V mới quen nên chỉ biết ở xã Tiên Sơn, thị xã Duy Tiên, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) đến nhà V chơi và mời V về nhà B chơi. Sau đó, B chở V về nhà B. Trên đường đi đến đoạn đường vắng, B và V xuống xe rồi cùng nhau sử dụng một phần ma túy Heroine do B mang theo, bằng hình thức chích. Số ma túy còn lại chưa sử dụng hết và lọ nước cất B để trong túi nilon màu đen rồi gói lại đưa cho V cầm. Sau đó, B chở V đi ra đường đê sông Châu Giang thuộc địa phận thôn Đọi Tín, xã Tiên Sơn và bảo V đứng đây chờ B đi đón bạn. Trong lúc V đang chờ B thì bị tổ công tác của Công an xã Tiên Sơn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật có liên quan.
Cáo trạng số 104/CT-VKS ngày 19/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Văn V từ 18 đến 24 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có số 201/PC09-MT chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định, 01 túi nilon màu đen; 01 lọ nước cất và tuyên án phí đối với bị cáo.
Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 20 giờ 10 phút ngày 01/9/2021, tại thôn Đọi Tín, xã Tiên Sơn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, Lê Văn V đang có hành vi cất giấu trái phép 01 túi nilon màu đen, bên trong có 01 gói giấy, có chứa chất màu trắng dạng cục, bột là ma túy có khối lượng là 0,050g, loại Heroine thì bị Tổ công tác Công an xã Tiên Sơn phát hiện bắt giữ và thu các vật chứng liên quan.
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo tàng trữ 0,050g Heroin trong khi bị cáo đang có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân rất xấu; mặc dù bị cáo đang có tiền án nhưng đã dùng làm tình tiết định tội nên không tính tái phạm đối với bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Xét tính chất hành vi phạm tội do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, mặc dù bị cáo đã nhiều lần bị kết án nhưng không chịu cải sửa mà vẫn dấn thân vào con đường phạm tội vì thế cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong có số 201/PC09-MT là mẫu vật hoàn trả sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 01 lọ nước cất, 01 túi nilon có giá trị nhỏ cần tịch thu cho tiêu hủy.
Về hành vi khác trong vụ án: Do không xác định được lai lịch người nam giới tên B theo như lời khai của bị cáo nên không có cơ sở làm rõ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Lê Văn V 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2021.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 lọ nước cất; 01 túi nilon màu đen; 01 phong bì niêm phong có số 201/PC09-MT.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội bị cáo Lê Văn V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Công an thị xã Duy Tiên;
- VKSND thị xã Duy Tiên;
- THADS thị xã Duy Tiên;
- Bị cáo; đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Ngọc Thuận
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu, tuy nhiên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Bị cáo là một người nghiện ma túy, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần phải ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để bị cáo cai nghiện, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về các tình tiết khác: Do không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho Lê Văn Trường là ai, ở đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc phong bì niêm phong số 197/PC09-MT có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, xác định đây là vật chứng cấm lưu hành liên quan đến vụ án nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Trường (tên gọi khác: Lê Duy Trường) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Lê Văn Trường 18(Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2021.
2. Vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì niêm phong số 197/PC09-MT có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 29/10/2021).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội buộc bị cáo Lê Văn Trường phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Công an thị xã Duy Tiên;
- VKSND thị xã Duy Tiên;
- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Tiến Đông
Khoảng tháng 6/2021, Bùi Huy Lực, sinh năm 2002 trú tại thôn Suối Tép, xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình có quen biết với Đinh Thị Nhung, sinh năm 1985 trú tại thôn 1, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh và Sầm Thị Hạnh (tên thường gọi là Vy), sinh năm 1995 trú tại thôn Cổ Trai, xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội đều là gái bán dâm. Nhung và Hạnh đang thuê trọ tại tổ dân phố Thần Nữ, phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên. Lực thỏa thuận, thống nhất với Nhung và Hạnh về việc Lực sẽ là người tìm kiếm khách mua dâm rồi làm trung gian dẫn dắt cho Nhung và Hạnh bán dâm để kiếm tiền chia nhau. Lực quy định: Khi bán dâm "tàu nhanh" giá 500.000đ/ 01 người/ 01 lần, Lực được hưởng 200.000đ, gái bán dâm được hưởng 300.000đ, bán dâm qua đêm không hạn chế số lần quan hệ tình dục thì giá là 1.500.000đ, trong đó Lực được hưởng 700.000đ, còn giái bán dâm được hưởng 800.000đ, tiền phòng nghỉ khách trả. Sau khi thống nhất xong, Lực lập ra một trang website có tên: "Gái gọi Đồng Văn" rồi gắn số điện thoại 0812523180 và 0942119107 của Lực đã đăng ký tài khoản zalo "Huy Lực" kèm các thông tin giới thiệu về các hoạt động làm tình, quan hệ tình dục của gái bán dâm với khách mua dâm. Trong quá trình hoạt động, Lực đã quen biết và thỏa thuận với Nguyễn Thúy Hằng, sinh ngày 20/6/2005 (nhưng Hằng tự khai với Lực, mình sinh năm 1997) trú tại thôn Vĩnh Thanh, xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội về việc bán dâm như đã thỏa thuận với Nhung và Hạnh.
Khoảng 20h00' ngày 26/8/2021, khách mua dâm khai tên là Đỗ Văn Long, sinh năm 1980 trú tại thôn Lạt Hà, xã Trác Văn, thị xã Duy Tiên và Nguyễn Quốc Hưng, sinh năm 1988 trú tại thôn Từ Đài, xã Chuyên Ngoại, thị xã Duy Tiên rủ nhau gọi gái bán dâm để mua dâm. Long vào trang Website "Gái gọi Đồng Văn" lấy số điện thoại của Lực gắn trên trang Website rồi dùng tài khoản zalo "Đỗ Trương" của mình nhắn tin tới tài khoản zalo "Huy Lực" để thỏa thuận giá cả mua bán dâm. Long nhắn tin với Lực nội dung muốn tìm 02 gái bán dâm cho Long và Hưng để quan hệ tình dục "tàu nhanh". Sau khi thống nhất giá cả, địa điểm thì Lực cung cấp ảnh của Sầm Thị Hạnh và Nguyễn Thúy Hằng cho Long và Hưng thì Long và Hưng đều đồng ý mua dâm cả Hạnh và Hằng. Long và Hưng đến nhà nghỉ Sao Mai 2 thuộc tổ dân phố số 3, phường Hòa Mạc, thị xã Duy Tiên thuê 02 phòng nghỉ. Long vào phòng 202, Hưng vào phòng 204. Long thông báo cho Lực biết số phòng để Lực đưa Hạnh và Hằng đến. Đến khoảng 22h00' ngày 26/8/2021, Lực gọi điện cho Hạnh nói "Có khách rồi, đi làm nhé", Hạnh đồng ý nói "Vâng". Tiếp đó, Lực gọi cho Hằng thông báo có khách mua dâm, Hằng đồng ý. Sau đó, khoảng 22h30' cùng ngày, Lực điều khiển xe mô tô Exirer BKS 90B2 - 701.48 đón Hằng tại cầu vượt Đồng Văn rồi đón Hạnh tại nhà trọ của Hạnh ở tổ dân phố Thần Nữ, phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên. Lực chở Hạnh và Hằng đến nhà nghỉ Sao Mai 2 thuộc tổ dân phố số 3, phường Hòa Mạc, thị xã Duy Tiên và thông báo cho Hạnh và Hằng biết khách mua dâm đang ở phòng 202 và 204. Hạnh và Hằng vào quầy lễ tân, mỗi người lấy 01 chiếc bao cao su loại ANPHU GOOD CONDOM cầm đi lên tầng 2. Hạnh vào phòng 202, Hằng và phòng 204. Tại phòng 202, Long và Hạnh thực hiện hành vi mua bán dâm, còn tại phòng 204 khi Hằng vào phòng thì Hưng chê Hằng béo và xấu nên không mua dâm và muốn đổi người khác. Lúc này, khoảng 23h30' cùng ngày, tổ công tác của Công an thị xã Duy Tiên phối hợp với Công an phường Hòa Mạc kiểm tra tại phòng nghỉ 202 và phòng 204 nhà nghỉ Sao Mai 2 phát hiện Hạnh và Long đang quan hệ tình dục, phòng 204 có Hằng và Hưng đang ngồi trên giường không mặc quần áo. Tổ công tác đã lập Biên bản vụ việc và tạm giữ các vật chứng có liên quan.
Vật chứng thu giữ gồm:
Thu trên nền nhà tại phòng 202: 01 ruột bao cao su, bên trong chứa chất dịch nhầy, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su màu vàng nhãn hiệu ANPHU GOOD CONDOM;
Thu trong túi quần trên giường của Đỗ Văn Long số tiền 500.000đ;
Thu trên giường ngủ trong phòng 204 01 bao cao su nhãn hiệu ANPHU GOOD CONDOM chưa qua sử dụng;
Thu trên người Nguyễn Quốc Hưng số tiền 500.000đ;
Thu 01 xe mô tô Exirer BKS 90B2 - 701.48 và 01 điện thoại Iphone 6 vỏ màu đen, bên trong có lắp sim số thuê bao 0942119107 do Bùi Huy Lực tự nguyện giao nộp.
Khám xét khẩn cấp chỗ làm việc của Bùi Huy Lực, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Cơ quan CSĐT - Công an thị xã Duy Tiên tiến hành kiểm tra khai thác điện thoại di động Iphone 6 vỏ màu đen, bên trong có lắp sim số thuê bao 0942119107 thu giữ của Bùi Huy Lực. Kết quả: Số điện thoại 0904549531 lưu tên "Hằng". Lực khai Hằng, là gái bán dâm. Số điện thoại 0973143229 lưu tên "Vy Nv". Lực khai Hạnh (tên khác: Vy), là gái bán dâm. Số điện thoại 0853574448 được lưu là "Nhung". Lực khai Nhung, là gái bán dâm. Kiểm tra mục zalo "Huy Lực" thấy có tin nhắn của tài khoản zalo "Đỗ Trương" trao đổi về nội dung mua bán dâm. Kiểm tra trang website "Gái gọi Đồng Văn" có tài khoản Yến Nhi @ . Lực khai đây là trang website hoạt động môi giới mại dâm.
Đối với chiếc điện thoại mà Đinh Thị Nhung, Nguyễn Thúy Hằng, Sầm Thị Hạnh dùng để liên lạc với Bùi Huy Lực trong việc môi giới mua bán dâm: Theo Nhung, Hằng, Hạnh khai đã bị mất nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên không thu giữ được.
Mở rộng điều tra vụ án, xác định: Trước đó vào trưa ngày 03/8/2021, Đỗ Văn Long vào trang website "Gái gọi Đồng Văn" sử dụng tài khoản zalo "Đỗ Trương" kết bạn với tài khoản zalo "Huy Lực" của Lực nhắn tin và trao đổi thỏa thuận mua bán dâm. Lực gửi ảnh của Đinh Thị Nhung cho Long xem thì Long đồng ý mua dâm Nhung theo sự sắp đặt của Lực. Khoảng 16h30' ngày 03/8/2021, Long thuê phòng 201 nhà nghỉ Hoài Ngọc ở khu đô thị Hòa Mạc thuộc thôn Lạt Hà, xã Trác Văn, thị xã Duy Tiên rồi nhắn tin cho Lực thông báo số phòng Long đang ở. Lực gọi điện cho Nhung nói "Có khách ở Hòa Mạc, chuẩn bị đi", Nhung đồng ý nói "Ừ". Lực điều khiển xe mô tô BKS 90B2 - 701.48 đến phòng trọ của Nhung đón Nhung đến nhà nghỉ Hoài Ngọc. Lực bảo Nhung vào phòng 201 có khách mua dâm (là Long) đang chờ. Nhung vào quầy lễ tân của nhà nghỉ lấy 01 bao cao su rồi lên phòng 201 bán dâm cho Long. Mua dâm xong, Long trả cho Nhung 500.000đ. Sau đó, Lực đến nhà nghỉ đón Nhung. Tại đây, Lực gặp Long, Lực nói "Cho em xin tiền xăng chở hàng cho anh". Hiểu ý của Lực, Long cho Lực 200.000đ. Lực cầm tiền và chở Nhung về phòng trọ của Nhung thì được Nhung chia cho 200.000đ, Nhung hưởng 300.000đ từ việc bán dâm cho Long.
Đối với 02 người đàn ông tự khai tên là Đỗ Văn Long, sinh năm 1980 trú tại thôn Lạt Hà, xã Trác Văn, thị xã Duy Tiên và Nguyễn Quốc Hưng, sinh năm 1988 trú tại thôn Từ Đài, xã Chuyên Ngoại, thị xã Duy Tiên mua dâm Nhung và Hạnh. Trong khi Cơ quan điều tra làm việc lấy lời khai, Long và Hưng lấy lý do xin đi vệ sinh rồi sau đó bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã xác minh tại địa bàn xã Trác Văn và xã Chuyên Ngoại không có đối tượng nào có tên, tuổi, địa chỉ như trên. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên tiếp tục truy tìm các đối tượng này để xử lý sau.
Đối với Đinh Thị Nhung, sinh năm 1985 trú tại thôn 1, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh và Sầm Thị Hạnh (tên thường gọi là Vy), sinh năm 1995 trú tại thôn Cổ Trai, xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội có hành vi bán dâm cho Long và Hưng trong ngày 03/8/2021 và 26/8/2021 nên Công an thị xã Duy Tiên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nhung và Hạnh, bằng hình thức phạt tiền, mỗi người 200.000đ là đúng quy định của pháp luật.
Đối với bà Phạm Thị Kim Đĩnh, sinh năm 1975 ở tổ dân phố Thái Hòa, phường Hòa Mạc, thị xã Duy Tiên là chủ cơ sở kinh doanh nhà nghỉ Sao Mai 2 ở tổ dân phố số 3, phường Hòa Mạc, thị xã Duy Tiên, không biết các đối tượng bán dâm nhưng do không thực hiện đầy đủ các quy định về kinh doanh nhà nghỉ để xảy ra hoạt động mua, bán dâm tại nhà nghỉ Sao Mai 2 do mình quản lý nên Công an thị xã Duy Tiên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Đĩnh, hình thức phạt tiền: 16.000.000đ là đúng quy định của pháp luật.
Đối với nhà nghỉ Hoài Ngọc ở khu đô thị Hòa Mạc thuộc thôn Lạt Hà, xã Trác Văn, thị xã Duy Tiên, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã xác minh: Chủ cơ sở kinh doanh Nhà nghỉ Hoài Ngọc tên là Nguyễn Thị Hoài Ngọc, sinh năm 1975 ở thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Tuy nhiên, cơ sở kinh doanh này hiện không còn hoạt động lưu trú, đã bán cho chủ khác nên không có thông tin để xử lý theo quy định.
Đối với Nguyễn Thúy Hằng, sinh ngày 20/6/2005 trú tại thôn Vĩnh Thanh, xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội: Bản thân Hằng tự khai mình sinh năm 1997 nên Lực không biết Hằng sinh ngày 20/6/2005. Hằng chưa thực hiện hành vi bán dâm cho Nguyễn Quốc Hưng trong ngày 26/8/2021 nên Công an thị xã Duy Tiên không xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô Exirer BKS 90B2 - 701.48 quá trình điều tra xác định: Chiếc xe này là tài sản hợp pháp của anh Đinh Quang Hùng, sinh năm 1994 trú tại xóm 10, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Anh Hùng khai anh và Lực là anh em họ, thỉnh thoảng Lực có mượn xe của anh để đi lại, đến ngày 26/8/2021 anh nhờ Lực mang xe đi rửa hộ. Việc Lực dùng chiếc xe này của anh làm phương tiện chở Nhung và Hạnh đi bán dâm anh không biết nên Cơ quan CSĐT đã trả lại anh Hùng chiếc xe mô tô BKS 90B2 - 701.48.
Cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 10/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố bị cáo về tội “Môi giới mại dâm” theo các điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ
; tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6S đã cũ màu đen- bạc; tịch thu tiêu hủy: 01 ruột bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su đã bị xé rách; 01 bao cao su chưa qua sử dụng; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo và tuyên án phí đối với bị cáo.
Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duy Tiên và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 23h30' ngày 26/8/2021, tại nhà Sao Mai 2 thuộc tổ dân phố số 3, phường Hòa Mạc, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam do bà Phạm Thị Kim Đĩnh là chủ quản lý, Bùi Huy Lực đã có hành vi môi giới, dẫn dắt Sầm Thị Hạnh và Nguyễn Thúy Hằng bán dâm cho Đỗ Văn Long và Nguyễn Quốc Hưng để thu lợi bất chính 400.000đ. Khi Đỗ Văn Long đang quan hệ tình dục với Sầm Thị Hạnh thì bị Tổ công tác của Công an thị xã Duy Tiên phối hợp với Công an phường Hòa Mạc kiểm tra, phát hiện lập Biên bản vụ việc, thu giữ toàn bộ tang vật có liên quan. Còn Nguyễn Quốc Hưng không quan hệ tình dục với Hằng là ngoài ý muốn của Lực.
Ngoài ra, trước đó vào ngày 03/8/2021, Bùi Huy Lực còn môi giới, dẫn dắt Đinh Thị Nhung bán dâm cho Đỗ Văn Long 01 lần tại nhà nghỉ Hoài Ngọc ở khu đô thị Hòa Mạc thuộc thôn Lạt Hà, xã Trác Văn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, Lực đã thu lợi bất chính số tiền 400.000đ.
Tổng số tiền Bùi Huy Lực đã thu lợi bất chính từ việc môi giới mại dâm mà Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã chứng minh được là: 400.000đ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng và nếp sống lành mạnh, văn minh, đạo đức xã hội. Hành vi ấy đã ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục của dân tộc và là tiền đề làm lây lan các căn bệnh xã hội đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo có nhân thân xấu; các bị cáo nhiều lần phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; sau khi phạm tội người thân của các bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét vai trò: vụ án này thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn; bị cáo Quân khởi xướng, tham gia tích cực nên giữ vai trò đầu vụ; bị cáo Hạnh giữ vai trò đồng phạm.
Từ nhận định trên, thấy rằng: các bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần vi phạm pháp luật nhưng không chịu cải sửa mà vẫn dấn thân vào con đường phạm tội vì thế cần phải cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã nhận được tiền bồi thường, khắc phục hậu quả, nay không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Đối với: 01 xe mô tô BKS 33M4-3800 bị cáo đã dùng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với 01 mũ bảo hiểm; 01 áo khoác cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với các đồ vật, tài liệu khác cơ quan điều tra đã giải quyết là đúng.
Án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; 58; 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: các bị cáo Vũ Hồng Quân, Nguyễn Đình Hạnh phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Vũ Hồng Quân 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2021. Xử phạt Nguyễn Đình Hạnh 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2021.
2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô BKS 33M4-3800. Tịch thu cho tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm; 01 áo khoác nam.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục thi hành án thị xã Duy Tiên)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội các bị cáo Vũ Hồng Quân, Nguyễn Đình Hạnh mỗi bị cáo phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Sở Tư pháp Hà Nam;
- Công an Duy Tiên;
- VKSND Duy Tiên;
- THADS Duy Tiên;
- Bị cáo;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Trần Ngọc Thuận
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về nhân thân: các bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thể hiện ý thức chấp hành pháp luật không tốt, ngoài ra Đặng Nhật Bách đã nhiều lần bị xử phạt hành chính. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; riêng Đặng Nhật Bách quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải, được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét vai trò: vụ án này thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, Đặng Nhật Bách là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện nên giữ vai trò đầu vụ, bị cáo Phạm Trung Hiếu đồng phạm với vai trò giúp sức.
Từ nhận định trên, thấy rằng: các bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật không tốt; bị cáo Đặng Nhật Bách đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo Phạm Trung Hiếu không thành khẩn khai báo, không thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi của mình vì thế cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo; miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: cơ quan điều tra đã trả 43 tấm gỗ và 01 hòm gỗ cho Công ty TNHH Eidai là đúng; đối với xe mô tô BKS 90K1 – 0735 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Hạnh, chị Hạnh không biết Bách sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cơ quan CSĐT đã trả lại cho chị Hạnh là đúng. Đối với 01 điện thoại Master bị cáo đã sử dụng liên lạc trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH Eidai Việt nam đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, nay không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.
Trong vụ án này Lưu Quang Tiến thừa nhận tháng 3/2019 đã lấy trộm 01 tấm gỗ dán thành phẩm KT khoảng (100x30x1,1)cm của Công ty ngoài ra Tiến không biết việc Bách trộm cắp của công ty nên cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với Tiến là phù hợp pháp luật.
Án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 17; 58; 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; riêng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Nhật Bách.
Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Nhật Bách, Phạm Trung Hiếu phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Xử phạt Đặng Nhật Bách: 09 (Chín) tháng tù, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2019 đến ngày 04/01/2020. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt Phạm Trung Hiếu: 07 (Bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Master.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 05/3/2020).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc các bị cáo Đặng Nhật Bách, Phạm Trung Hiếu mỗi bị cáo phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho các bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Sở Tư pháp Hà Nam;
- Công an Duy Tiên;
- VKSND Duy Tiên;
- THADS Duy Tiên;
- Bị cáo;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Trần Ngọc Thuận
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi nhận thức được hành vi của mình các bị cáo đã khắc phục hậu quả mang tài sản trộm cắp trả lại cho công ty; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét vai trò: Nguyễn Xuân Trường là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên giữ vai trò đầu; các bị cáo Bùi Văn Thịnh, Đoàn Xuân Sáng giữ vai trò đồng phạm.
Từ nhận định trên thấy rằng: Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi nhận thức được hành vi của mình các bị cáo đã chủ động khắc phục hậu quả, các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ xét thấy không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình và xã hội tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình.
Đối với anh Vũ Quảng Trường có giao dịch mua các tấm blach plate, ông Dương Quang Học tham gia vào quá trình vận chuyển các tấm blach plate tuy nhiên anh Trường, ông Học không biết các tài sản này do các đối tượng trộm cắp nên hành vi của anh Trường, ông Học không cấu thành tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo là phù hợp thực tế.
Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.
Về vật chứng vụ án: đối với 8 pallet hàng các bị cáo đã trả lại cho công ty, nay công ty không yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết; đối với các tài liệu thu giữ khác cần lưu tại hồ sơ vụ án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng khoản 1 điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17, 58, 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân Trường, Bùi Văn Thịnh, Đoàn Xuân Sáng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Trường 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/8/2019).
Xử phạt Bùi Văn Thịnh, Đoàn Xuân Sáng mỗi bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/8/2019).
Giao bị cáo Nguyễn Xuân Trường cho UBND phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Bùi Văn Thịnh cho UBND thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Đoàn Xuân Sáng cho UBND xã Đại Cường, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân Trường, Bùi Văn Thịnh, Đoàn Xuân Sáng mỗi bị cáo phải chịu số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Công an huyện Duy Tiên;
- VKSND huyện Duy Tiên;
- THADS huyện Duy Tiên;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Bị cáo; Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TRẦN NGỌC THUẬN
Hành vi nêu trên của các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc’’ theo quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, các bị cáo thực hiện hành vi với mục đích sát phạt nhau được thua bằng tiền, thể hiện sự coi thường kỉ cương pháp luật của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự địa phương. Vì vậy HĐXX cần phải xử lý trước pháp luật đối với các bị cáo để giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét vai trò của các bị cáo cho thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi “Liêng”, sát phạt nhau bằng tiền là do ham thích và hoàn toàn tự nguyện, không bị ai kích động, dụ dỗ. Trong đó các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Sơn đều là người giữ vai trò thực hành, trực tiếp thực hiện hành tội phạm. Riêng bị cáo Chung tuy không tham gia đánh bạc nhưng đã gọi điện rủ rê các bị cáo: Toản, Thiện, Hà và Nghĩa đến nhà mình để đánh bạc và chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội và thu tiền hồ nên giữ vai trò chính, đồng phạm với các bị cáo khác. HĐXX sẽ xem xét về tính chất, vai trò và nhân thân từng bị cáo để đánh giá, ấn định mức hình phạt khi lượng hình.
Trong lượng hình xét thấy: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS): các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1Điều 48 BLHS. Riêng bị cáo Sơn đã bị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xử phạt 10 tháng tù về tội “ Đánh bạc” theo bản án ngày 23/3/2016, bị cáo ra trại ngày 08/9/2016. Nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, cả 6 bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình,thể hiện sự ăn năn hối cải. Do vậy tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Đối với các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung về nhân thân chưa từng bị kết án nên được coi là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, các bị cáo này được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 BLHS. Riêng bị cáo Đào Xuân Sơn có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo Sơn có thời gian tham gia quân đội; bị cáo Nguyễn Văn Chung sau khi bỏ trốn đã tự nguyện ra đầu thú nên các bị cáo Sơn, Chung được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS.
Sau khi xem xét mọi mặt, HĐXX thấy rằng đây là vụ án đánh bạc có nhiều người tham gia, gây dư luận xấu tại địa bàn xã Chuyên Ngoại và khu vực lân cận, làm mất trật tự trị an địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc các bị cáo mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn. Tuy nhiên, như đã nhận định: các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung là những người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần thiết bắt các bị cáo này phải cách ly khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 60 BLHS cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với bị cáo Sơn như đã nhận định, là người có nhân thân xấu nên HĐXX cần áp dụng Điều 33 BLHS cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành công dân tốt là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh của các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, có khó khăn khác nhau nên HĐXX quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 3 Điều 248 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 5, vỏ màu vàng thu giữ của bị cáo Toản và 01 điện thoại Nokia 105 thu giữ của bị cáo Nghĩa, quá trình điều tra xác định có liên quan đến hành vi phạm tội, nên HĐXX cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động Samsung Note 4 thu giữ của bị cáo Thiện và 01 điện thoại Nokia 1280 thu giữ của bị cáo Sơn, đã chứng minh làm rõ không liên quan đến hành vi phạm tội, nên HĐXX xét trả lại cho các bị cáo Thiện và Sơn.
- Đối với số tiền 23.050.000đ trong đó có 10.550.000đ là số tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại là 12.500.000đ trong đó 5.500.000đ thu giữ của bị cáo Hà; 7.000.000đ thu giữ của bị cáo Toản, quá trình điều tra không chứng minh được Hà, Toản dùng số tiền trên thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, HĐXX xét trả lại cho các bị cáo Hà và Toản.
- Đối với các vật chứng còn lại là công cụ, phương tiện để các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung phạm tội “ Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53; Điều 60 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà và Nguyễn Văn Chung.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 20; Điều 53; Điều 33 Bộ luật hình sự đối với bị cáo: Đào Xuân Sơn.
+ Áp dụng riêng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung.
* Xử phạt:
- Nguyễn Văn Chung: 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (17/11/2017).
- Bị cáo Đào Xuân Sơn: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31/7/2017.
- Các bị cáo: Lê Văn Toản, Trần Văn Hà, Nguyễn Tuấn Nghĩa và Nguyễn Khánh Thiện, mỗi bị cáo 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (17/11/2017).
Giao các bị cáo Lê Văn Toản, Trần Văn Hà, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Văn Chung cho UBND xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Nguyễn Khánh Thiện cho UBND xã Trác Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 41 BLHS và điều 76 BLTTHS:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 5, vỏ màu vàng; 01 điện thoại Nokia 105 và số tiền 10.550.000đ (Mười triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Khánh Thiện: 01 điện thoại di động Samsung Note4.
- Trả lại cho bị cáo Đào Xuân Sơn: 01 điện thoại Nokia 1280.
- Trả lại cho bị cáo Trần Văn Hà: số tiền 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Toản: số tiền 7.000.000đ (Bẩy triệu đồng).
- Tịch thu cho tiêu hủy: Các vật chứng còn lại.
( Toàn bộ đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Tiên).
3. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội. Buộc các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm: các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - Công an huyện Duy Tiên; - VKSND huyện Duy Tiên; - Chi cục THADS huyện Duy Tiên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Mạnh Xuân Hải |