- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN CÔNG K VÀ ĐỒNG PHẠM - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với Trần Công K.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2021/HS-ST Ngày: 30-08-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Dương
2. Ông Nguyễn Duy Biên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Duyến – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2021, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 08 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 08 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Trần Công K - Sinh ngày 13/07/1991 tại xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn K, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Trần Công L - Sinh năm: 1964 và con bà: Phạm Thị Đ - Sinh năm: 1970; Có vợ: Vũ Thị H - Sinh năm: 1995; Bị cáo chưa có con;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 01 tháng 4 năm 2021, bị UBND xã Hải Nhân, thị xã Nghi Sơn ra Quyết định số 141/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn/biện pháp quản lý tại gia đình với thời hạn 03 (ba) tháng.
Nhân thân: Ngày 18 tháng 8 năm 2010, bị Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn) tuyên phạt 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo bản án số 49/2010/HSST, chấp hành xong bản án ngày 18/8/2015.
- Ngày 01 tháng 12 năm 2011, bị Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua dâm với mức phạt: 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/4/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Văn N - Sinh ngày 01/11/2000 tại phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Tổ dân phố Q, phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông: Lê Văn M (Đã chết) và con bà: Nguyễn Thị N - Sinh năm: 1975; Bị cáo chưa có vợ;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/4/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa;
3. Nguyễn Ngọc T - Sinh ngày 15/07/1996 tại phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Tổ dân phố Q, phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Ngọc T - Sinh năm: 1968 và con bà: Nguyễn Thị L - Sinh năm: 1968; Bị cáo chưa có vợ;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/4/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi liên quan: Anh Nguyễn Đức H – Sinh năm: 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Đức O – Sinh năm: 1997 (vắng mặt)
2. Anh Lê Văn C – Sinh năm: 1980 (vắng mặt)
3. Chị Hà Thị X – Sinh năm: 1995 (vắng mặt)
Đều có địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết với nhau từ trước nên chiều ngày 03 tháng 4 năm 2021, sau khi cùng nhau ăn nhậu xong, Trần Công K đã nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma tuý nên đã rủ Lê Văn N, Nguyễn Ngọc T cùng sử dụng và được N, T đồng ý. Để có ma tuý sử dụng, K đã gặp một người đàn ông lạ mặt và hỏi mua ma tuý tại khu vực chợ H và được người này hẹn khoảng 30 phút sau đến tại gốc cây đầu tiên trước quán Bi A 36 thuộc xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hoá để tiền lại và lấy ma tuý. Sau đó, K đã gọi điện cho Nguyễn Đức O để mượn nhà của N, lấy mật khẩu, chìa khóa vào nhà. Tại nhà O, K đã đưa cho T số tiền 2.800.000đ (Hai triệu tám trăm nghìn đồng) để đi lấy ma tuý. Sau khi nhận tiền từ K, T đưa số tiền trên cho N cầm còn T điều khiển chiếc xe mô tô mang biển số 36C1-132.58 (xe mượn của ông Nguyễn Đức H) chở N đi lấy ma tuý. Khi đến nơi, N xuống xe và đi lại phía gốc cây để lại số tiền mà K đã đưa trước đó và lấy một bọc ma tuý rồi lên xe cùng với T trở về nhà O. Khi về đến nhà O thì N đưa toàn bộ số ma tuý vừa lấy được cho K. Trước đó, khi chờ T và N đi lấy ma tuý, K có gọi điện rủ Lê Văn C đến nhà O chơi cùng sử dụng ma túy cho vui. Quá trình sử dụng ma túy, K là người bẻ ma tuý dạng “kẹo” (MDMA) thành nhiều phần. Bản thân K sử dụng một phần ma tuý dạng “kẹo”, trực tiếp đưa một phần ma tuý dạng “kẹo” cho N sử dụng và để các phần ma tuý dạng còn lại xuống bàn cho T và Chiến tự lấy để sử dụng. Ngoài ra, K còn cất một phần ma tuý dạng “kẹo” vào trong người để đưa cho Hà Thị X sử dụng sau. Sau khi sử dụng ma túy kẹo xong, K lấy đĩa sứ, bật lửa gas tại bàn thờ ông địa, lấy thẻ nhựa loại thẻ ATM tại bàn trang điểm trong phòng ngủ nhà O để “xào” ma túy dạng Ketamine, chia thành các đường và lấy tờ tiền mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng) từ T để cuộn thành ống hút làm công cụ cho các đối tượng sử dụng ma tuý. Hà Thị X đến nhà O sau nên được K đưa cho một phần ma tuý dạng “kẹo” để X sử dụng.
Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03 tháng 4 năm 2021, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Nghi Sơn phối hợp cùng Công an phường Bình Minh kiểm tra cư trú tại nhà ở của Nguyễn Đức O, thì phát hiện K đang đứng và đốt cháy giấy trên một chiếc thớt gỗ, trên mặt thớt có các muội tro màu đen. Ngoài ra, trên bàn bếp có 01 (một) đĩa sứ màu trắng, bên trên đĩa sứ có 01 (một) thẻ nhựa màu xanh, loại thẻ ATM, bên dưới đĩa sứ có bám muội khói màu đen. Trên bề mặt đĩa sứ và thẻ nhựa đều có bám dính chất bột màu trắng và 01 (một) bật lửa ga đã qua sử dụng. Trong khi đó các đối tượng: N, T, Chiến và Xuân đang ở phòng khách trong nhà. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vụ việc và thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên theo quy định pháp luật. Quá trình làm việc các đối tượng Trần Công K, Lê Văn C, Nguyễn Ngọc T, Lê Văn N, Hà Thị X đều khai nhận vừa sử dụng ma túy xong thì bị tổ công tác Công an thị xã Nghi Sơn kiểm tra và tiến hành làm việc.
Đến 10 giờ 45 phút ngày 04/4/2021, Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghi Sơn tiến hành thử nhanh chất ma túy trong nước tiểu của Trần Công K, Lê Văn N, Nguyễn Ngọc T, Lê Văn C và Hà Thị X, kết quả: K, N, T, Chiến dương tính với MDMA và Ketamine còn X dương tính với MDMA.
Tại Kết luận giám định số 1290/PC09 ngày 06/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Chất bột màu trắng bám dính trên 01 (một) đĩa sứ màu trắng và trên 01 (một) thẻ nhựa màu xanh (loại thẻ ATM) thu giữ tại vị trí Trần Công K đứng có tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine, không xác định khối lượng.
Kết quả xác minh đã xác định: Lê Văn C, Nguyễn Ngọc T, Lê Văn N và Hà Thị X đều không phải là người nghiện ma túy còn Trần Công K là đối tượng nghiện ma túy thuộc diện quản lý của chính quyền địa phương.
Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn đã tiến hành xác minh tại Công an xã H, thị xã Nghi Sơn tuy nhiên không xác định được danh tính của người đàn ông mà K đã đặt mua ma tuý tại khu vực chợ H như K đã khai báo. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có đủ thông tin, tài liệu để xác định và xử lý đối với đối tượng bán ma tuý nêu trên.
Đối với Nguyễn Đức O là người cho các đối tượng mượn nhà ở của mình để làm địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, khi mượn nhà của O, K nói mượn nhà với mục đích để hát karaoke. Mặt khác, O và các thành viên khác trong gia đình đều không có mặt ở nhà tại thời điểm các đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý. O không hề biết việc các đối tượng mượn nhà ở của mình để sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, hành vi của O không cấu thành tội phạm.
Đối với ông Nguyễn Đức Hoàn cho Lê Văn N mượn xe mô tô biển số 36C1-132.58 sau đó T và N sử dụng phương tiện này để đi lấy ma tuý. Khi cho mượn, ông Hoàn không biết mục đích N mượn xe để sử dụng vào mục đích đi lấy ma tuý nên hành vi của ông Hoàn không cấu thành tội phạm.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn thu giữ:
- 01 (một) đĩa sứ màu trắng bên trên bề mặt có bám dính chất bột màu trắng, bên dưới có bám muội khói màu đen.
- 01 (một) thẻ nhựa màu xanh, loại thẻ ATM, có bám dính chất bột màu trắng, trên bề mặt thẻ có in dòng chữ nổi "HA THI LINH NGA" và dòng số nổi "9704151555395343"
- 01 (một) vật hình tròn bằng gỗ trên bề mặt có bám muội tro màu đen.
- 01 (một) túi nilon màu trắng viền màu đỏ chứa chất muội tro màu đen được gạt trên mặt vật hình tròn bằng gỗ.
- 01 (một) bật lửa gas đã qua sử dụng.
- 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) được phát hiện và tạm giữ trong người của Nguyễn Ngọc T.
- Số tiền 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng) được phát hiện và tạm giữ trong người Lê Văn N.
- Số tiền 1.820.000đ (Một triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng) được phát hiện và tạm giữ trong người Trần Công K.
- Tạm giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại EXCITER màu xanh bạc mang biển số 36C1-132.58 và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe số 009818 của Nguyễn Đức Hoàn, sinh năm 1971, trú tại tổ dân phố Quý Hải, phường Bình Minh, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa;
- Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động SAMSUNG A11, màu đen đã qua sử dụng, có lắp sim số: 0968420605 và 01 (một) điện thoại di động Iphone 7, màu hồng đã qua sử dụng, có lắp sim số: 0968420605 của Trần Công K;
- Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động VTRETU, đã qua sử dụng, có lắp sim số: 0379735111 của Lê Văn N;
- Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động VIVO, màu xanh có dán lớp giấy màu vàng, đã qua sử dụng, có lắp sim số: 0367190111 của Nguyễn Ngọc T;
- Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động Iphone màu ghi có ốp nhựa màu đen, đã qua sử dụng, có lắp sim số: 0971088616 của Lê Văn C;
- Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 màu trắng, có ốp màu trắng, đã qua sử dụng, có lắp sim số: 0984524705 của Hà Thị X.
Xét thấy một số tài sản không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp gồm:
- Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại EXCITER màu xanh bạc mang biển số 36C1-132.58 và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe cho ông Nguyễn Đức Hoàn;
- Trả lại cho Trần Công K 01 (một) điện thoại di động SAMSUNG A11, màu đen đã qua sử dụng (Do Phạm Thị Đào - Sinh năm 1970, trú tại thôn Khánh Vân, xã Hải Nhân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá) là người được ủy quyền nhận;
- Trả lại cho Lê Văn N 01 (một) điện thoại di động VTRETU, đã qua sử dụng (Do bà Nguyễn Thị Nga - sinh năm 1975, trú tại tổ dân phố Quý Hải, phường Bình Minh, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá) là người được ủy quyền nhận;
- Trả lại cho Nguyễn Ngọc T 01 (một) điện thoại di động VIVO, màu xanh có dán lớp giấy màu vàng, đã qua sử dụng (Do người được ủy quyền nhận là bà Nguyễn Thi Lơi - Sinh năm: 1969, trú tại tổ dân phố Quý Hải, phường Bình Minh, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá) là người được ủy quyền nhận;
- Trả lại cho Lê Văn C 01 (một) điện thoại di động Iphone màu ghi có ốp nhựa màu đen, đã qua sử dụng;
- Trả lại cho Hà Thị X 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 màu trắng, có ốp màu trắng, đã qua sử dụng.
Về xử lý vật chứng: Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đã ra quyết định chuyển vật chứng của vụ án đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn để bảo quản và thi hành án gồm:
- Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của hộp giấy trắng ký hiệu M1, phong bì màu trắng ký hiệu M2, M4, 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) thẻ nhựa màu xanh (loại thẻ ATM) và 0,568g (không phẩy năm sáu tám gam) chất muội tro màu đen của phong bì ký hiệu M4 là mẫu vật còn lại sau giám định;
- 01 (một) hộp giấy, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Trọng Dũng, Lê Ngọc Hiếu, Trần Công K, Hoàng Văn Long, Lê Trung và các hình dấu của Công an phường Bình Minh – Công an thị xã Nghi Sơn bên trong có chứa 01 (một) vật hình tròn bằng gỗ trên bề mặt có bám muội tro màu đen;
- 01 (một) bật lửa gas đã qua sử dụng;
- 01 (một) phong bì màu trắng ký hiệu ĐT6 được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của những người có liên quan và các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá bên trong có 01 (một) điện thoại di động Iphone 7, màu hồng đã qua sử dụng, có lắp sim số: 0968420605.
- 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Đới Thế Hoàng và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá bên trong có chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng) có in dòng chữ “NGÂN HÀNG NHÀ OƯỚC VIỆT NAM”;
- 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Đới Thế Hoàng và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá bên trong có chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong và 08 (tám) tờ tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), 09 (chín) tờ tiền mệnh giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng), trên mỗi tờ tiền đều có in dòng chữ in dòng chữ “NGÂN HÀNG NHÀ OƯỚC VIỆT NAM”;
- 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Đới Thế Hoàng và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá bên trong có chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong và 03 (ba) tờ tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), 04 (bốn) tờ tiền mệnh giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng), 06 (sáu) tờ tiền mệnh giá 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) trên mỗi tờ tiền đều có in dòng chữ in dòng chữ “NGÂN HÀNG NHÀ OƯỚC VIỆT NAM”.
Bản cáo trạng số 117/CT-VKSNS-HS ngày 16/08/2021 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Trần Công K, Lê Văn N và Nguyễn Ngọc T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
* Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Trần Công K, Lê Văn N và Nguyễn Ngọc T.
Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Công K.
- Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với các bị cáo cụ thể như sau:
Trần Công K từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù.
Lê Văn N và Nguyễn Ngọc T từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn của các bị cáo được tính từ ngày bắt tạm giam (06/04/2021). Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy:
+ Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của hộp giấy trắng ký hiệu M1, phong bì màu trắng ký hiệu M2, M4;
+ 01 (một) đĩa sứ màu trắng;
+ 01 (một) thẻ nhựa màu xanh (loại thẻ ATM);
+ 0,568g (không phẩy năm sáu tám gam) chất muội tro màu đen của phong bì ký hiệu M4 là mẫu vật còn lại sau giám định;
+ 01 (một) hộp giấy, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Trọng Dũng, Lê Ngọc Hiếu, Trần Công K, Hoàng Văn Long, Lê Trung và các hình dấu của Công an phường Bình Minh – Công an thị xã Nghi Sơn bên trong có chứa 01 (một) vật hình tròn bằng gỗ trên bề mặt có bám muội tro màu đen;
+ 01 (một) bật lửa gas đã qua sử dụng;
- Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu sung quỹ Nhà Oước và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng) có in dòng chữ “NGÂN HÀNG NHÀ OƯỚC VIỆT NAM” được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Đới Thế Hoàng và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá bên trong có chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong;
- Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu bán sung quỹ Nhà Oước 01 (một) điện thoại di động Iphone 7, màu hồng đã qua sử dụng, có lắp sim số: 0968420605 được đựng trong 01 (một) phong bì màu trắng ký hiệu ĐT6 được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của những người có liên quan và các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá của Trần Công K vì bị cáo đã dùng điện thoại giao dịch mượn nhà của Nguyễn Đức O để các bị cáo sử dụng ma túy;
- Đề nghị HĐXX tuyên trả lại số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo cụ thể: Trần Công K 1.820.000đ và Lê Văn N 5.300.000đ.
- Đối với các tài sản không liên quan đến vụ án Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp, chủ sở hữu đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do tình hình phức tạp của dịch bệnh Covid-19 nên một số thủ tục giao nhận không thể tống đạt trực tiếp và đúng thời hạn quy định của pháp luật được. Tuy nhiên tại phiên tòa cả 3 bị cáo bị cáo Trần Công K, Lê Văn N và Nguyễn Ngọc T đều thống nhất và không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về quyết định, hành vi tố tụng của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn: Ngày 20/08/2021 Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với cả 3 bị cáo Trần Công K, Lê Văn N và Nguyễn Ngọc T. Trong quyết định vụ án được đưa ra xét xử vào hồi 13h30 phút ngày 30/08/20219, tuy nhiên do tình hình phức tạp của dịch bệnh Covid-19 nên Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn không thể tống đạt trực tiếp Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho các bị cáo đang bị tạm giam được nên đã làm công văn gửi kèm theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử và đề nghị Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa và Công an thị xã Nghi Sơn giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho các bị cáo và hoàn lại cho Tòa án Biên bản giao nhận cho Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn. Do đó việc giao nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử cho các bị cáo có chậm hơn so với quy định của pháp luật. Tuy nhiên tại phiên tòa cả 3 bị cáo bị cáo Trần Công K, Lê Văn N và Nguyễn Ngọc T đều thống nhất đề nghị không hoãn phiên tòa mà tiếp tục đưa vụ án ra xét xử. Do đó TAND thị xã Nghi Sơn vẫn tiến hành xét xử vụ án bình thường. Nên hành vi, quyết định tố tụng của TAND thị xã Nghi Sơn đã thực hiện đối với bị cáo đều hợp pháp (Điều 277 và Điều 286 BLTTHS).
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều khai và thừa nhận: Vào chiều ngày 03 tháng 4 năm 2021, tại nhà của Nguyễn Đức O ở tổ dân phố Quý Hải, phường Bình Minh, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Khi các bị cáo Trần Công K, Lê Văn N và Nguyễn Ngọc T đang có hành vi tổ chức sử dụng ma túy cho Lê Văn C và Hà Thị X cùng sử dụng thì bị Công an thị xã Nghi Sơn phát hiện và bắt quả tang. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và phù với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà, đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Trần Công K, Lê Văn N và Nguyễn Ngọc T đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, bởi lẽ: Ma túy là một trong những đại họa mà toàn nhân loại phải đối mặt, là vấn đề đang còn nhức nhối, ám ảnh của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Nhận thức sâu sắc về tác hại của ma túy nên Đảng và Nhà Oước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống ma túy cũng như quyết tâm loại trừ các tệ nạn về ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau nên các tội phạm về ma túy vẫn chưa giảm mà lại có chiều hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp hơn.
Để góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội ngoài công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng thì các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương như: Công an, Viện kiểm sát và Tòa án đã tăng cường, phối hợp chặt chẽ công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm và tệ nạn ma túy, kiên quyết triệt xóa các tụ điểm phức tạp, không để gây bức xúc trong nhân dân. Điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, chọn các vụ án điểm về ma túy để xét xử nhằm tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật và tác hại của ma túy đối với đời sống xã hội để những người tham dự phiên tòa hiểu và rút ra bài học trong việc giáo dục con em mình về phòng tránh những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy, góp phần nâng cao hiểu biết về kiến thức pháp luật cho người dân. Vận động nhân dân phát hiện tố giác tội phạm về ma túy nhằm góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm. Từ đó nêu cao tinh thần cảnh giác, phòng ngừa tội phạm trên địa bàn dân cư để từng bước đẩy lùi và loại trừ tội phạm nguy hiểm này.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà Oước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và lan tràn tệ nạn nghiện hút.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy rằng: Đây là vụ án có nhiều bị cáo cùng thực hiện tội phạm, nhưng hành vi của các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau. Vì vậy việc áp dụng hình phạt đối với từng bị cáo cần phải có sự phân hóa vai trò để cá thể hóa hình phạt cho từng bị cáo. Cũng như phải xem xét đến nhân thân của từng bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt cho từng bị cáo phù hợp với pháp luật, cụ thể:
- Trần Công K có vai trò thứ nhất vì bị cáo là người khởi xướng, rủ rê, tìm mua ma túy, mượn địa điểm sử dụng ma túy; đưa tiền để mua ma túy và là người trực tiếp chia ma túy cho các đối tượng sử dụng do đó bị cáo phải chịu mức hình phạt cao nhất.
- Lê Văn N là người mượn xe của ông Nguyễn Đức Hoàn để đi mua ma túy, còn Nguyễn Ngọc T là người trực tiếp nhận tiền từ K để cùng với N đi mua ma túy và đưa tờ tiền 10.000đ mà bị cáo lấy trong nhà O cho K để các đối tượng sử dụng ma túy. Do đó 2 bị cáo có vai trò thứ hai và bằng nhau.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, HĐXX thấy rằng:
* Đối với Trần Công K: Bị cáo có 1 tiền sự và là người có nhân thân xấu đó là: Ngày 01/12/2011, bị Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua dâm với mức phạt: 750.000đ (Bảy năm mươi nghìn đồng); Ngày 18 tháng 8 năm 2010, bị Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn) tuyên phạt 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 49/2010/HSST, bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 18/8/2015. Tuy đến nay không còn là tiền án, nhưng lần này bị cáo lại phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, cố tình không chịu rèn luyện, cải sửa để trở thành con người tốt. Với nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo, nghĩ cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét: Sau khi bị bắt quả tang và tại giai đoạn đầu của điều tra thì bị cáo không thành khẩn khai báo (khai báo không đúng với nội dung của vụ án). Nhưng đến ngày 30/06/2021 tại nhà tạm giữ Công an thị xã Nghi Sơn bị cáo đã có đơn gửi cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn để xin được khai báo lại với lý do: “Quá trình tạm giữ, tạm giam bản thân đã nhận thức rõ ràng hành vi phạm tội của mình. Trước đây trong quá trình lấy lời khai và hỏi cung bản thân đã khai nhận một số tình tiết chưa đúng với nội dung của vụ án. Nên bị cáo làm đơn kính mong cơ quan Cảnh sát điều tra và Nhà tạm giữ của cơ quan điều tra tạo điều kiện cho bị cáo được khai báo lại các nội dung cần thay đổi nhằm đảm bảo sự thật khách quan của vụ án để nhận được sự khoan hồng của pháp luật” (có xác nhận của thủ trưởng cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam). Đến nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; Bị cáo đã vận động gia đình ủng hộ quỹ phòng chống dịch Covid 19 được Uỷ ban MTTQ xã Hải Nhân xác nhận; Ông Trần Công Khoa, bố của bị cáo, là người được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang vì có thành tích phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
* Đối với Lê Văn N và Nguyễn Ngọc T:
Tiền án, tiền sự: Không
Cả 2 bị cáo đều có nhân thân tốt; Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
Cả hai bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Với tính chất nghiêm trọng của vụ án nghĩ cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục các bị cáo cũng như răn đe và phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của hộp giấy trắng ký hiệu M1, phong bì màu trắng ký hiệu M2, M4;
+ 01 (một) đĩa sứ màu trắng;
+ 01 (một) thẻ nhựa màu xanh (loại thẻ ATM);
+ 0,568g (không phẩy năm sáu tám gam) chất muội tre màu đen của phong bì ký hiệu M4 là mẫu vật còn lại sau giám định;
+ 01 (một) hộp giấy, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Trọng Dũng, Lê Ngọc Hiếu, Trần Công K, Hoàng Văn Long, Lê Trung và các hình dấu của Công an phường Bình Minh – Công an thị xã Nghi Sơn bên trong có chứa 01 (một) vật hình tròn bằng gỗ trên bề mặt có bám muội tro màu đen;
+ 01 (một) bật lửa gas màu xanh đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung quỹ Nhà Oước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng) có in dòng chữ “NGÂN HÀNG NHÀ OƯỚC VIỆT NAM” được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Đới Thế Hoàng và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá bên trong có chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong;
- Tịch thu bán sung quỹ Nhà Oước 01 (một) điện thoại di động Iphone 7, màu hồng đã qua sử dụng, có lắp sim số: 0968420605 được đựng trong 01 (một) phong bì màu trắng ký hiệu ĐT6 được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của những người có liên quan và các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá của Trần Công K vì bị cáo đã dùng điện thoại giao dịch mượn nhà của Nguyễn Đức O để các bị cáo sử dụng ma túy;
- Trả lại số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo cụ thể:
+ Trần Công K 1.820.000đ (gồm có: 03 tờ tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), 04 tờ tiền mệnh giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng), 06 tờ tiền mệnh giá 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Đới Thế Hoàng và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá bên trong có chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong;
+ Lê Văn N 5.300.000đ (gồm có: 08 tờ tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), 02 tờ tiền mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), 09 tờ tiền mệnh giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng) được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Đới Thế Hoàng và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá;
- Đối với các tài sản không liên quan đến vụ án Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp nên HĐXX không xem xét gồm:
+ Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại EXCITER màu xanh bạc mang biển số 36C1-132.58 và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe cho ông Nguyễn Đức Hoàn;
+ Trả lại cho Trần Công K 01 (một) điện thoại di động SAMSUNG A11, màu đen đã qua sử dụng (Do Phạm Thị Đào - Sinh năm 1970, trú tại thôn Khánh Vân, xã Hải Nhân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá) là người được ủy quyền nhận;
+ Trả lại cho Lê Văn N 01 (một) điện thoại di động VTRETU, đã qua sử dụng (Do bà Nguyễn Thị Nga - sinh năm 1975, trú tại tổ dân phố Quý Hải, phường Bình Minh, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá) là người được ủy quyền nhận;
+ Trả lại cho Nguyễn Ngọc T 01 (một) điện thoại di động VIVO, màu xanh có dán lớp giấy màu vàng, đã qua sử dụng (Do người được ủy quyền nhận là bà Nguyễn Thi Lơi - Sinh năm: 1969, trú tại tổ dân phố Quý Hải, phường Bình Minh, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá) là người được ủy quyền nhận;
+ Trả lại cho Lê Văn C 01 (một) điện thoại di động Iphone màu ghi có ốp nhựa màu đen, đã qua sử dụng;
+ Trả lại cho Hà Thị X 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 màu trắng, có ốp màu trắng, đã qua sử dụng.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng...". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo đều không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với Trần Công K.
- Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với Lê Văn N và Nguyễn Ngọc T.
Tuyên bố: Trần Công K, Lê Văn N và Nguyễn Ngọc T đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
1. Trần Công K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
2. Lê Văn N 07 (bảy) năm tù.
3. Nguyễn Ngọc T 07 (bảy) năm tù.
Thời hạn tù của các bị cáo đều được tính từ ngày bắt tạm giam (06/4/2021). Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của hộp giấy trắng ký hiệu M1, phong bì màu trắng ký hiệu M2, M4;
+ 01 (một) đĩa sứ màu trắng;
+ 01 (một) thẻ nhựa màu xanh (loại thẻ ATM);
+ 0,568g (không phẩy năm sáu tám gam) chất muội tre màu đen của phong bì ký hiệu M4 là mẫu vật còn lại sau giám định;
+ 01 (một) hộp giấy, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Trọng Dũng, Lê Ngọc Hiếu, Trần Công K, Hoàng Văn Long, Lê Trung và các hình dấu của Công an phường Bình Minh – Công an thị xã Nghi Sơn bên trong có chứa 01 (một) vật hình tròn bằng gỗ trên bề mặt có bám muội tro màu đen;
+ 01 (một) bật lửa gas màu xanh đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung quỹ Nhà Oước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng) có in dòng chữ “NGÂN HÀNG NHÀ OƯỚC VIỆT NAM” được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Đới Thế Hoàng và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá bên trong có chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong;
- Tịch thu bán sung quỹ Nhà Oước 01 (một) điện thoại di động Iphone 7, màu hồng đã qua sử dụng, có lắp sim số: 0968420605 được đựng trong 01 (một) phong bì màu trắng ký hiệu ĐT6 được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của những người có liên quan và các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá của Trần Công K vì bị cáo đã dùng điện thoại giao dịch mượn nhà của Nguyễn Đức O để các bị cáo sử dụng ma túy;
- Trả lại số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể:
+ Trần Công K 1.820.000đ (gồm có: 03 tờ tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), 04 tờ tiền mệnh giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng), 06 tờ tiền mệnh giá 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Đới Thế Hoàng và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá bên trong có chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong;
+ Lê Văn N 5.300.000đ (gồm có: 08 tờ tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), 02 tờ tiền mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), 09 tờ tiền mệnh giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng) được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Đới Thế Hoàng và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá;
(Theo phiếu nhập kho số NK2021/102 ngày 26 tháng 08 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn).
Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc các bị cáo Trần Công K, Lê Văn N và Nguyễn Ngọc T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt cả ba bị cáo tại phiên tòa. Tuyên bố các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi liên quan; - VKSND thị xã Nghi Sơn; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn; - Cơ quan THAHS Công an thị xã Nghi Sơn; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Hạnh |