vanban.org

Bản án 111/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 06/09/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn B.

Giữ N bản án hình sự sơ thẩm số 31/2017/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện T V T. Xử phạt bị cáo Bùi Văn B 06 (Sáu) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2017/HSPT
Ngày 06 tháng 9 năm 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Minh Tấn

Các Thẩm phán: Ông Lê Thường Vụ

Ông Nguyễn Thành Lập

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà:

Bà Trần Thị Kiều Trang – Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà:

Bà Quách Xíu Muội - Kiểm sát viên.

Ngày 6 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 120/2017/HSPT ngày 27 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo: Bùi Văn B, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2017/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện T V T.

Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Bùi Văn B - sinh năm 1996; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Ấp B M II, xã T H, huyện T V T, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm ruộng, Trình độ học vấn: 7/12; Con ông: Bùi Vũ L và bà: Lê Thị L; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được cho tại ngoại (Có mặt).

Người bị hại: Ông Huỳnh Tuấn L - sinh năm 1994. (vắng mặt)

Trú tại: Ấp 10B, xã T H, huyện T V T, tỉnh Cà Mau.

NHẬN THẤY:

Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T V T và bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện T V T, nội dung vụ án như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 28 tháng 3 năm 2017, Bùi Văn B cùng các anh Bùi Văn Đ, Phạm Chí N, Nguyễn Văn K nhậu tại nhà của Huỳnh Tuấn L tại ấp 10B, xã T H, huyện T V T, tỉnh Cà Mau.

Tổ chức nhậu được khoảng 15 phút, L rủ K, N xuống ao bắt cá. L kêu B nấu nước sôi để làm cá. B vào bếp nấu nước thì phát hiện điện thoại Iphone 7 plus màu hồng của L để trên đầu tủ lạnh. B lấy điện thoại, tắt nguồn bỏ vào túi quần bên phải của mình, sau đó đem điện thoại vừa lấy được về nhà cất giấu vào tủ quần áo.

Theo Bản kết luận định giá số 10/BBKL ngày 03/4/2017 của Hội đồng định giá thuộc Ủy ban nhân dân huyện T V T, kết luận: 01 điện thoại hiệu Iphone 7 plus màu hồng trị giá là 22.540.800 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2017/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện T V T quyết định:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn B phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn B 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo pháp luật quy định.

Ngày 26/6/2017 bị cáo Bùi Văn B kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo xin hưởng án treo, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã xét xử. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ N bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

XÉT THẤY:

Vào ngày 28 tháng 3 năm 2017, Bùi Văn B nhậu tại nhà của Huỳnh Tuấn L tại ấp 10B, xã T H, huyện T V T, tỉnh Cà Mau. Tổ chức nhậu được khoảng 15 phút, L rủ K, N xuống ao bắt cá. L kêu B nấu nước sôi để làm cá. B vào bếp nấu nước thì phát hiện điện thoại Iphone 7 plus màu hồng của L để trên đầu tủ lạnh. B lấy điện thoại, tắt nguồn bỏ vào túi quần bên phải của mình, sau đó đem điện thoại vừa lấy được về nhà cất giấu vào tủ quần áo. Theo Bản kết luận định giá số 10/BBKL ngày 03/4/2017 của Hội đồng định giá thuộc Ủy ban nhân dân huyện T V T, kết luận: 01 điện thoại hiệu Iphone 7 plus màu hồng trị giá là 22.540.800 đồng. Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 31/2017/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện T V T xét xử bị cáo Bùi Văn B phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác trái pháp luật, ảnh hưởng tình hình trật tự địa phương. Án sơ thẩm đã xem xét toàn diện các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn B 06 tháng tù là tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do hành vi của bị cáo đã gây ra và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ N bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng án sơ thẩm không áp dụng điểm h mà lại áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự là không phù hợp, cần rút kinh nghiệm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn B.

Giữ N bản án hình sự sơ thẩm số 31/2017/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện T V T.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p, h khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn B 06 (Sáu) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ