- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn T - Nguyễn Thị H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 07 - 2023. V/v: “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Duy Mạnh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Dậu và ông Tạ Văn Đài.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 07 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 353/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023, về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 06 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 107/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 07 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1979. HKTT: Tổ 5, đường số 28, ấp TB, xã BM, huyện TB, tỉnh Đồng Nai. Cư trú tại: Đường 15, ấp HL, xã HT, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980. Cư trú tại: Số 11/17, Tổ 5, đường số 28, ấp TB, xã BM, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.
(Ông T đề nghị xét xử vắng mặt, bà H vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/03/2023 và trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày:
Ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H tự nguyện chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai vào năm 2003.
Vợ chồng chung sống hay xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung. Mặc dù hai bên đã nhiều lần cố gắng hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Ông T và bà H đã sống ly thân khoảng 10 năm nay, ông T đã có tình cảm với người phụ nữ khác nhưng bà H cố tình gây khó dễ, cản trở ông T trong việc ly hôn. Nay ông T xác định ông không còn tình cảm yêu thương dành cho bà H nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H để giải thoát cho nhau và để ông T được đăng ký kết hôn với người khác.
Về con chung: Ông T trình bày, ông và bà H có 01 con chung là Trần Hoàng Chí K, sinh ngày 24/08/2004. Hiện tại con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án phải xem xét, giải quyết.
Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Ông T cam kết vợ chồng không có nợ chung.
* Trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử, bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng nhưng bà H không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên tòa, vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến trình bày.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng;
- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông Trần Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị H. Về con chung: đã thành niên và có khả năng lao động nên không phải đặt ra xem xét, giải quyết. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung khai không có; bị đơn không có tranh chấp và không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Buộc nguyên đơn phải nộp án phí DSST về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự:
Ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị H hiện đang cư trú tại số 11/17, Tổ 5, đường số 28, ấp TB, xã BM, huyện TB, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Ông Trần Văn T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt; bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn:
Quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H là hôn nhân hợp pháp, vì họ kết hôn tự nguyện, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định tại Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn quy định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên được pháp luật công nhận, bảo vệ.
Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã kêu gọi ông Trần Văn T đoàn tụ với bà Nguyễn Thị H nhưng ông T vẫn cương quyết ly hôn vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay ông đã có tình cảm với người phụ nữ khác, ông và bà H đã sống ly thân 10 năm nay.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà Nguyễn Thị H đến Tòa án để làm việc, vận động hàn gắn đoàn tụ giữa ông T, bà H nhưng bà H không chấp hành, cố tình vắng mặt mà không có lý do chính đáng, chứng tỏ bà H cũng không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T.
Kết quả xác minh tại UBND xã Bình Minh ngày 17/05/2023 thể hiện: “Qua nắm bắt thông tin do Trưởng ấp cung cấp được biết anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị H đã sống ly thân khoảng 04 năm nay...”.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H đã xảy ra trong thời gian dài, đã trầm trọng, giữa họ không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc đến nhau, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận cho ông Trần Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.
Về con chung: Cháu Trần Hoàng Chí K, sinh ngày 24/08/2004 đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H không có tranh chấp, không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Ông Trần Văn T trình bày không có, bà Nguyễn Thị H không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông Trần Văn T phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.
- Về con chung: Đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn T phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002728 ngày 03/04/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Ông Trần Văn T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Trảng Bom; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THADS. huyện Trảng Bom; - UBND xã T, H. Trảng Bom (GCNKH số 61 ngày 27/10/2003); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Duy Mạnh |