vanban.org

Bản án 110/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 23/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Minh S phạm các tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và “Hiếp dâm”.

Xử phạt bị cáo Phạm Minh S 18 (Mười tám) năm tù về tội "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi" và 12 (Mười hai) năm tù về tội "Hiếp dâm". Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phạm Minh S phải chấp hành chung cho cả hai tội là 30 (Ba mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bị bắt tạm giam ngày 07 t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Phạm Minh S - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Minh S phạm các tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và “Hiếp dâm”.
  • Căn cứ chính? Điều 141 Bộ luật Hình sự; Điều 142 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2022/HS-ST
Ngày 23 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Danh.

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An;

Bà Bùi Thị Bích Liên.

Ông Phùng Đình Chúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Huệ – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 100/2022/TLST- HS ngày 31 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Phạm Minh S, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1980 tại phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố T1, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Minh T và bà Nguyễn Thị S (đều đã chết); có vợ là Phùng Thị Th và có 07 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 18/HS-ST ngày 20/5/2003 của Tòa án nhân dân huyện Y, Tuyên Quang đã xử phạt S 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; bị bắt tạm giam t ngày 07/4/2022 đến nay, “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phan Thị Kim L – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

- Bị hại:

+ Cháu Phạm Vân A, sinh năm 2005; nơi cư trú: Tổ dân phố T1, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.

+ Cháu Phạm A T, sinh năm 2009; nơi cư trú: Tổ dân phố T1, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.

- Người đại diện hợp pháp của cháu Phạm Vân A và cháu Phạm A T: Bà Phùng Thị T2, sinh năm 1979 (là mẹ của bị hại); nơi cư trú: Tổ dân phố Trà 1, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Phạm Vân A và cháu Phạm A T: Bà Kim Hồng Thanh - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

- Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Sáng, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cháu Phạm Vân A, sinh ngày 14/02/2005 và cháu Phạm A T, sinh ngày 04/01/2009 là chị em ruột cùng sinh ra và lớn lên trong gia đình có bố đẻ là Phạm Minh S và mẹ đẻ là Phùng Thị T2. Bị cáo S và chị T2 sinh được 07 người con đều cư trú tại Phố Trà 1, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Do hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn nên chị Phùng Thị T2 phải thường xuyên vắng nhà để ra ngoài lao động kiếm tiền nuôi sống gia đình. S thường ở nhà cùng các con nhưng S là người lười lao động, ham mê rượu chè, tha hóa về nhân cách. T năm 2016 đến nay, để thỏa mãn dục vọng của bản thân, S đã nhiều lần có hành vi hiếp dâm đối với các con đẻ của mình là các cháu Phạm Vân A, Phạm A T cụ thể như sau:

1. Đối với cháu Phạm Vân A, sinh ngày 14/02/2005:

- Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 6/2016, (cháu Phạm Vân A lúc này được khoảng 11 tuổi 4 tháng), khi cháu Vân A đang ở nhà thì S nảy sinh ý định hiếp dâm đối với cháu Vân A nên S đã gọi cháu Vân A vào bên trong nhà vệ sinh của gia đình rồi quát, đe dọa bắt cháu Vân A phải đứng úp mặt vào tường để S thực hiện hành vi giao cấu. Do trước đó cháu Vân A đã bị S đánh, mắng nên cháu Vân A sợ phải làm theo lời của S. Khi cháu Vân A úp mặt vào tường, S cởi tụt quần cháu Vân A xuống ngang đùi rồi S tự cởi quần của S để lộ dương vật đã cương cứng. S dùng tay đưa dương vật vào bên trong âm đạo cháu Vân A, thực hiện động tác đưa vào, rút ra liên tục khoảng 3 phút thì xuất tinh ra bên ngoài nền của nhà vệ sinh. Sau đó S và cháu Vân A tự kéo quần lên, S dọa cháu Vân A không được nói chuyện này với ai nếu không S sẽ đánh.

- Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ ngày 29/01/2022 (cháu Phạm Vân A lúc này được được 16 tuổi 11 tháng 15 ngày), S nảy sinh ý định hiếp dâm đối với cháu Vân A. S phân việc cho các con gái quét dọn, lau chùi nhà cửa và bảo riêng cháu Vân A đi vào trong phòng ngủ chung của gia đình để dọn dẹp quần áo. Sau đó, S đi vào trong phòng ngủ trước. Khi thấy cháu Vân A vào phòng ngủ thì S quát “Nằm xuống cho tao làm cái”, ý là S yêu cầu cháu Vân A nằm ngửa ra giường để S quan hệ tình dục. Cháu Vân A không đồng ý và khóc nhưng S vẫn dùng tay kéo quần của cháu Vân A xuống ngang gối, S tự cởi quần của S ra. Cháu Vân A sợ hãi, kêu khóc thì bị S quát “im”. Sau đó, S nằm đè lên người cháu Vân A, tay trái giữ người cháu Vân A còn tay phải đưa dương vật đang cương cứng vào trong âm đạo cháu Vân A, thực hiện động tác ấn vào, rút ra liên tục trong khoảng 02-03 phút thì xuất tinh. Sau đó S đứng dậy tự mặc quần cộc. Trước khi ra khỏi buồng ngủ, S cấm cháu Vân A không được nói chuyện này cho ai biết, nếu không sẽ bị S đánh.

- Lần thứ ba: Khoảng 15 giờ ngày 15/3/2022 (cháu Phạm Vân A lúc này được 17 tuổi 11 tháng 15 ngày) khi cháu Vân A đang ở nhà thì S gọi cháu Vân A vào trong phòng ngủ chung của gia đình để dọn dẹp quần áo. Sau khi cháu Vân A vào trong buồng thì S đe dọa yêu cầu cháu Vân A phải nằm ngửa ra giường ngủ. Cháu Vân A không đồng ý nhưng sợ S mắng, đánh nên phải làm theo. S dùng tay kéo tụt quần của cháu Vân A xuống ngang gối để lộ âm đạo và tự cởi quần của S ra để lộ dương vật của S đang cương cứng. Sau đó S nằm đè lên người cháu Vân A, tay trái giữ người cháu Vân A còn tay phải đưa dương vật đang cương cứng vào trong âm đạo cháu Vân A rồi thực hiện động tác ấn vào, rút ra liên tục khoảng 03 phút thì xuất tinh lên bụng của cháu Vân A.

2. Đối với cháu Phạm A T, sinh ngày 04/01/2009:

- Lần thứ nhất: Vào một ngày khoảng tháng 6/2020, cháu Phạm A T lúc này khoảng 11 tuổi 5 tháng. Sau khi ăn sáng xong, cháu T2 đang xem phim ở phòng khách thì S giả vờ gọi cháu T2 lên gác xép để dọn dẹp quần áo, mục đích là l a cháu T2 lên chỗ kín đáo để hiếp dâm. Cháu T2 lên gác xép, S đã lên theo sau. Tại đây S đã có lời nói đe dọa và bảo cháu T2 phải tự nằm xuống tấm đệm cũ trải trên gác xép rồi tự cởi quần xuống đến ngang đầu gối. Sau đó S tự cởi quần của S rồi nằm đè lên người cháu T2, đưa dương vật đang cương cứng vào trong âm đạo cháu T2, ấn vào, rút ra khoảng 3-5 phút thì xuất tinh ra bẹn trái của cháu T2. Sau đó S mặc quần và dọa cháu T2 không được nói với ai, nếu không S sẽ đánh.

- Lần thứ hai: Ngày 10/3/2022 (cháu Phạm A T lúc này được khoảng 13 tuổi 2 tháng 6 ngày) khi cháu T2 đang ở nhà thì S gọi cháu T2 vào nhà vệ sinh chung của gia đình. Khi cháu T2 vào trong nhà vệ sinh thì S đi vào theo sau. Tại đây S đe dọa và bảo cháu T2 phải tự tụt quần xuống ngang đầu gối, đứng dạng hai chân. Do sợ bị S đánh nên cháu T2 phải thực hiện theo. Sau đó S tự cởi quần ra đứng đối diện với cháu T2. S dùng tay phải đưa dương vật đang cương cứng của S vào trong âm đạo cháu T2, thực hiện đồng tác ấn vào, rút ra liên tục khoảng 05 phút thì S xuất tinh lên nền nhà vệ sinh. Sau đó S mặc quần và nói đe dọa cháu T2 không được kể chuyện này cho ai biết, nếu không S sẽ đánh.

Lo sợ bị bố đánh nên sau khi bị xâm hại, hai cháu T2 và Vân A không dám nói chuyện hay báo cơ quan Công an. Đến ngày 28/3/2022, cháu Phạm Vân A sợ sẽ tiếp tục bị hiếp dâm nên cháu Vân A đã tự ý bỏ đi khỏi nhà, đến thuê trọ tại nhà bà Nguyễn Thị Sáng ở xã Tam Đồng, huyện Mê Linh, Hà Nội để trốn. Tại đây, cháu Vân A không có tiền, nhịn đói, không ra khỏi phòng trọ liên tục đến ngày 06/4/2022, nên bà Sáng đã hỏi cháu Vân A và được biết sự việc cháu Vân A bị hiếp dâm nêu trên. Bà Sáng đã đưa cháu Vân A ra Công an xã Tam Đồng trình báo. Công an xã Tam Đồng đã thông báo và chuyển tố giác tội phạm đến Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên xác minh giải quyết theo quy định pháp luật.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường chung, theo chỉ dẫn của cháu Phạm Vân A, cháu Phạm A T là sự việc xảy ra tại nhà ở của gia đình vợ chồng S - T2 ở tổ dân phố Trà 1, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc là nhà cấp 4 dạng nhà ống một tầng, lợp mái tôn, địa chỉ số 13, đường Nguyễn Danh Phương, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Phía Bắc ngôi nhà tiếp giáp nhà anh Thủy. Phía Nam tiếp giáp với nhà anh chị Trang Thiệp. Phía Tây ngôi nhà giáp với ngõ 20, đường Nguyễn Danh Phương là đường đi của khu dân cư. Phía Đông ngôi nhà tiếp giáp khu đất trống.

Chiều ngang ngôi nhà rộng 05m, dài 25m, phía trước có 01 sân lát gạch đỏ KT (05x02) m. Tiếp đến có 01 cửa ra vào với phòng khách KT (01x02) m. Tiếp đến là phòng khách, phòng ngủ, kho để đồ. Tiếp đến là bếp, sân bê tông, chuồng gà (thứ tự t sân đi vào) dọc theo ngôi nhà có 01 hành lang đi rộng 01m, góc phía Đông Nam của ngôi nhà có 01 nhà vệ sinh.

Hiện trường cụ thể:

- Vị trí S thực hiện hành vi hiếp dâm con gái là cháu Phạm Vân A:

+ Tại phòng vệ sinh tầng 1 bên phải hướng t ngoài đường nhìn vào bên trong nhà là vị trí cháu Vân A bị xâm hại tình dục. Khu vực nhà vệ sinh nằm phía cuối của khu đất tiếp giáp bờ tường hướng Nam và Đông, t gian bếp đi vào phía cuối căn nhà. Trước nhà vệ sinh là sân nền đất để nuôi gà, khung cửa nhà vệ sinh KT (1,95x0,6) m và không có cánh cửa. Nhà vệ sinh có KT (3,6x1,0) m, bên trong nhà vệ sinh có lát nền gạch, sát cửa có kê 01 máy giặt, cuối nhà vệ sinh có lắp một bồn cầu dạng ngồi bệt.

Tại phòng ngủ tầng 1 bên trái hướng t cửa nhìn t bên ngoài đường vào phía trong nhà; trên giường là vị trí mà cháu Vân A bị S xâm hại tình dục. Kích thước phòng (3,4x2,4) m, có kê giường gỗ KT (1,65x2,1) m, cao 0,4m.

- Vị trí S thực hiện hành vi hiếp dâm con gái là cháu Phạm A T:

+ Gác xép nằm ở cuối phòng khách được nối với nền nhà bằng một cầu thang kim loại có KT (2,55x 0,24)m; Chiều cao t mặt đất và sân nhà lên mép sàn gác xép là 2,2m; có bảy bậc thang lên xuống. Sàn gác xép có 01 lỗ hở để lên xuống gác xép KT (0,6x0,8)m, mặt sàn làm bằng gỗ KT (3,4x3,6)m, trên khu vực này là khu để đồ quần áo, chăn màn và các đồ gia dụng khác.

+ Khu vực nhà vệ sinh nằm phía cuối của khu đất tiếp giáp bờ tường hướng Nam và Đông, t gian bếp đi vào phía cuối căn nhà. Trước nhà vệ sinh là sân nền đất để nuôi gà, cửa nhà vệ sinh KT (3,6x1,0)m, cửa mở ra hướng Bắc; Bên trong nhà vệ sinh có lát nền gạch, sát cửa nhà vệ sinh có kê 01 máy giặt, cuối nhà vệ sinh có kê một bồn cầu dạng ngồi bệt.

- Phương tiện, dấu vết, tài liệu và mẫu vật thu được: Không thu giữ gì.

Kết quả trưng cầu giám định:

- Đối với cháu Phạm Vân A: Ngày 07/4/2022, Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định thương tích và tình dục đối với cháu Phạm Vân A. Ngày 08/4/2022 Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận giám định pháp y tình dục số 24/2022/TD, kết luận:

“1. Dấu hiệu chính:

- Các dấu vết thu thập được: Hiện tại các dấu vết trên cơ thể nạn nhân không có tổn thương.

- Màng trinh: Rách cũ ở vị trí 08 giờ và 10 giờ.

2. Kết luận:

- Hiện tại trên cơ thể không có dấu vết tổn thương, xếp; 00%.

- Hiện tại màng trinh: Rách cũ ở vị trí 08 giờ và 10 giờ.

- Kết quả xét nghiệm tìm xác tinh trùng và xác định có thai hay không. Bản kết luận kèm theo: không tìm thấy xác tinh trùng trong dịch âm hộ, âm đạo trên 04 lam kính; trong buồng tử cung của cháu Phạm Vân A có thai tương đương 9 tuần 4 ngày).

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định pháp y, Giám định pháp y tâm thần, tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định xếp: 00% (không phần trăm)”.

- Kết luận khác: không.

Ngày 08/4/2022, Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên trưng cầu Viện pháp y quân đội giám định AND, xét nghiệm HIV đối với Phạm Minh S và các cháu Phạm Vân A, Phạm A T. Ngày 15/4/2022 Viện pháp y quân đội có Kết luận giám định số HT125.22/PY-XNSH, kết luận:

- Trong mẫu máu của cháu Phạm A T, cháu Phạm Vân A, Phạm Minh S: HIV âm tính.

- Trong mẫu máu của cháu Phạm A T, cháu Phạm Vân A, Phạm Minh S: Viêm gan B âm tính.

- Không phát hiện thấy AND nhiễm sắc thể Y từ dấu vết trên các tăm bông thấm dịch âm hộ, âm đạo của các cháu Phạm Vân A và Phạm A T.

Ngày 12/4/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên trưng cầu Viện pháp y quân đội giám định AND của phôi thai và AND mẫu máu của S, cháu Vân A. Ngày 15/4/2022, Viện pháp y quân đội ra Bản kết luận giám định AND số HT127.22/PY-XNSH, kết luận:

“- Phạm Vân A và mẫu phôi thai giám định có quan hệ huyết thống Mẹ - Con.

- Phạm Minh S và mẫu phôi thai gửi giám định có quan hệ huyết thống Cha

- Con”

- Đối với cháu Phạm A T: Ngày 07/4/2022, Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định pháp y tình dục trẻ em đối với cháu Phạm A T. Ngày 08/4/2022 Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận giám định pháp y đối với trẻ em bị hoặc nghi bị xâm hại tình dục số 23/2022/TDTE, kết luận:

“1. Dấu hiệu chính:

- Các dấu vết thu thập được: Hiện tại các dấu vết trên cơ thể nạn nhân không có tổn thương.

- Màng trinh: Rách cũ ở vị trí 03 giờ và 09 giờ.

2. Kết luận:

- Hiện tại trên cơ thể không có dấu vết tổn thương, xếp; 00%.

- Hiện tại màng trinh: Rách cũ ở vị trí 03 giờ và 09 giờ.

- Không tìm thấy xác tinh trùng trong dịch âm hộ, âm đạo trên 04 lam kính; hiện tại không có thai trong buồng tử cung.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định pháp y, Giám định pháp y tâm thần, tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định xếp: 00% (không phần trăm)”.

- Kết luận khác: không

Đối với Phạm Minh S: Ngày 07/4/2022, Cơ quan điều tra Công thành phố Vĩnh Yên trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định chức năng tình dục đối với Phạm Minh S. Ngày 08/4/2022 Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc ra Bản Kết luận giám định pháp y về tình dục số 25/TD, kết luận:

“1. Các dấu vết thu thập được:

- Hiện tại trên cơ thể không có dấu vết thương tích, xếp: 00%.

- Hiện tại: Qua giám định dương vật của Phạm Minh S - SN: 1980, HKTT: Hội Hợp, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc cương cứng tốt có khả năng quan hệ tình dục.

2. Tổn hại sức khỏe ở thời điểm hiện tại là:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định Pháp y. Giám định pháp y Tâm thần, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể xếp: 00% (Không phần trăm)”..

Xác minh về tuổi của người bị hại:

- Đối với cháu Phạm Vân A, sinh ngày 14/2/2005 tại Hội Hợp, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc thể hiện tại Sổ đăng ký khai sinh số 01, trang số 17, số thứ tự 67 năm 2005; hộ khẩu số 630084400 (cháu Phạm Vân A có quan hệ với chủ hộ Phạm Minh S là con - bố đẻ). Tính đến ngày cháu Vân A bị S xâm hại tình dục thì: Lần 1 (Tháng 06/2016), cháu Vân A được 11 tuổi 4 tháng; Lần 2 (ngày 29/01/2022) cháu Vân A được 16 tuổi 11 tháng 15 ngày; lần 3 (ngày 15/3/2022) cháu Vân A được 17 tuổi 11 tháng 15 ngày.

- Đối với cháu Phạm A T, sinh ngày 04/01/2009 tại Hội Hợp, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc thể hiện tại Sổ đăng ký khai sinh số: 01, trang số 52 năm 2009; hộ khẩu số 630084400 (cháu Phạm A T có quan hệ với chủ hộ Phạm Minh S là con - bố đẻ). Tính đến ngày cháu T2 bị S xâm hại tình dục thì: Lần 1 (Tháng 06/2020) cháu T2 được 11 tuổi 5 tháng; lần 2 (ngày 10/3/2022) cháu T2 được 13 tuổi 02 tháng 06 ngày.

Về vật chứng vụ án: Không thu giữ được vật chứng gì.

Về bồi thường dân sự: Hai cháu Phạm Vân A, Phạm A T và người đại diện hợp pháp của hai cháu là bà Phùng Thị T2 (mẹ đẻ của cháu Vân A và T2) không yêu cầu bị cáo Phạm Minh S phải bồi thường dân sự vì S có quan hệ là bố đẻ của người bị hại.

Tại bản Cáo trạng số 99/CT-VKS-P2 ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Phạm Minh S về các tội "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi" và "Hiếp dâm".

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng các điểm a, d, đ, e khoản 2 Điều 142; các điểm b, d, e, g khoản 2 Điều 141; điểm đ khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt Phạm Minh S 18 (Mười tám) năm tù về tội "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi" và 12 (Mười hai) năm tù về tội "Hiếp dâm". Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 30 (Ba mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bị bắt tạm giam ngày 07/4/2022.

Ý kiến của người tham gia tố tụng:

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo trình bày bản bào chữa khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Điều luật và hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp, đồng tình với mức án mà Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại không có ý kiến đề nghị gì, đồng tình với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, các bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Phạm Minh S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo Phạm Minh S khai nhận để thỏa mãn dục vọng của mình, S đã 05 lần thực hiện hành vi hiếp dâm trái ý muốn đối với hai con gái của mình là cháu Phạm Vân A và cháu Phạm A T tại nhà ở của gia đình S thuộc tổ dân phố Trà 1, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đối với cháu Phạm Vân A, sinh ngày 14/02/2005 bị S hiếp dâm ba lần trong đó có 01 lần chưa đủ 16 tuổi, cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào tháng 6/2016, S gọi cháu Vân A vào bên trong nhà vệ sinh của gia đình rồi quát, đe dọa bắt cháu Vân A phải đứng úp mặt vào tường để S thực hiện hành vi giao cấu.

Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ, ngày 29/01/2022 tại phòng ngủ S quát “Nằm xuống cho tao làm cái” khi cháu Vân A buộc phải nằm ngửa ra giường thì S giao cấu với cháu Vân A.

Lần thứ ba: Khoảng 15 giờ, ngày 15/3/2022, tại phòng ngủ chung của gia đình, S quát, đe dọa cháu Vân A nằm ngửa ra giường để S quan hệ tình dục. Khi cháu Vân A buộc phải nằm ra giường thì S giao cấu với cháu Vân A.

Đối với cháu Phạm A T, sinh ngày 04/01/2009 bị S hiếp dâm hai lần và cả 02 lần đều chưa đủ 16 tuổi, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng tháng 6/2020 tại gác xép của gia đình, S đã đe dọa và bảo cháu T2 phải tự nằm xuống tấm đệm cũ trải trên gác xép rồi S giao cấu với cháu T2.

Lần thứ hai: Ngày 10/3/2022, tại nhà vệ sinh chung của gia đình, S đe dọa bắt cháu T2 đứng dạng hai chân, rồi S giao cấu với cháu T2.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại; người làm chứng; phù hợp với các kết luận giám định; phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. T đó có đủ cơ sở để kết luận Phạm Minh S đã có hành vi ba lần hiếp dâm người dưới 16 tuổi đối với chính con gái ruột của mình trong đó 01 lần đối với cháu Phạm Vân A và 02 lần đối với cháu Phạm A T và 02 lần hiếp dâm người trên 16 tuổi nhưng dưới 18 tuổi đối với cháu Phạm Vân A nên đã phạm vào tội "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi" với các tình tiết định khung tăng nặng là "có tính chất loạn luân”; “đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh”; “phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với 02 người trở lên” được quy định tại các điểm a, d, đ và e, khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù t 12 năm đến 20 năm và tội "Hiếp dâm" với các tình tiết định khung tăng nặng là “đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh”; “phạm tội 02 lần trở lên”; “có tính chất loạn luân”; “làm nạn nhân có thai” quy định tại các điểm b, d, e và g khoản 2 Điều 141 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù t 07 năm đến 15 năm.

Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tình dục của trẻ em. Hiện nay, Đảng và Nhà nước đang tích cực phối hợp với các tổ chức như Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc, Liên minh Châu âu để cùng chung tay đẩy lùi nạn xâm hại trẻ em đặc biệt là xâm hại tình dục đối với trẻ em gái. Các cơ quan tiến hành tố tụng t Trung ương đến địa phương đang nỗ lực phòng chống các loại tội phạm xâm hại trẻ em nhưng tình hình diễn biến của loại tội phạm này ngày càng phức tạp và gia tăng gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, làm suy đồi đạo đức, để lại nhiều hậu quả xấu cho các nạn nhân bị xâm hại, gây bất bình và lo lắng trong nhân dân trong việc bảo vệ gia đình và bản thân. Do đó cần xử lý thật nghiêm khắc với tội phạm này để phòng ng a chung trong xã hội và giáo dục riêng đối với các đối tượng có ý định phạm tội.

Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nhưng phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là “phạm tội vì động cơ đê hèn” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Chỉ vì ham muốn dục vọng của bản thân mà bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi hiếp dâm đối với chính hai con đẻ của mình thể hiện bị cáo phạm tội với động cơ rất xấu xa, thấp hèn, đáng khinh bỉ, không kể gì đến danh dự, nhân phẩm, tư cách của một con người. Thấy rằng, mức hình phạt mà đại diện đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà bị cáo phải chịu và hậu quả mà bị cáo đã gây ra đối với các bị hại. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội với mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng răn đe, tr ng trị.

Bị cáo phạm hai tội "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi" và "Hiếp dâm", vì vậy Hội đồng xét xử sẽ tổng hợp với hình phạt để buộc bị cáo S phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội.

Về trách nhiệm dân sự: Do các bị hại không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Phạm Minh S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Minh S phạm các tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và “Hiếp dâm”.

Căn cứ các điểm a, d, đ, e khoản 2 Điều 142; các điểm b, d, e, g khoản 2 Điều 141; điểm đ khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Minh S 18 (Mười tám) năm tù về tội "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi" và 12 (Mười hai) năm tù về tội "Hiếp dâm". Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phạm Minh S phải chấp hành chung cho cả hai tội là 30 (Ba mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bị bắt tạm giam ngày 07 tháng 4 năm 2022.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Minh S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án; các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh phúc;

- Phòng Hồ sơ - CA tỉnh Vĩnh Phúc;

- Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc;

- Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;

(đã ký)

- Bị cáo;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu: Hồ sơ, Phòng HC-TP, Tòa Hình sự.

Nguyễn Thanh Danh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn An

Đỗ Thị Kim T2

Nguyễn Thanh Danh

Cỡ chữ