vanban.org

Bản án 11/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng S (tên gọi khác: S Cô N) phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Võ Hoàng S (tên gọi khác: Sơn C N) 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/9/2025. Về… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 11/2026/HS-ST - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng S (tên gọi khác: S Cô N) phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – ĐỒNG NAI
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2026/HS-ST
Ngày: 04/02/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Huy Hà

Ông Nguyễn Ngọc Châu

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Lê Minh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2026 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 10

- Đồng Nai và Phân trại tạm giam khu vực L, Trại tạm giam số 2 tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2025/TLST-HS ngày 22/12/2025, đối với bị cáo:

Võ Hoàng S (tên gọi khác: S Cô N), sinh năm 1997, địa chỉ thường trú: Tổ E, khu phố P, phường B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Quang H và bà Nguyễn Thị N1 (đã chết), bị cáo chưa có vợ; tiền sự: không; Tiền án: Bản án số 28/2018/HS-ST ngày 27/7/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong ngày 30/8/2023. Bị cáo bị bắt từ ngày 05/9/2025 và bị áp dụng biện pháp tạm giam tới nay. Có mặt tại phiên tòa

Người làm chứng: Châu Mỹ P, sinh năm 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ E, khu phố P, phường B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 05/09/2025 trong lúc thực hiện nhiệm vụ Công an phường B đã phát hiện trong căn nhà của Võ Hoàng S thuộc tổ E, khu phố P, phường B, tỉnh Đồng Nai, gồm có: Võ Hoàng S, Châu Mỹ P và Phan Văn T có biểu hiện nghi về ma túy nên kiểm tra, kết quả S, P và T đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine (ma túy đá). Tại đây Công an phường A đã phát hiện 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy trong chỗ đựng nước của bồn cầu trong nhà vệ sinh.

Võ Hoàng S thừa nhận vào ngày 02/9/2025 có sử dụng ma túy đá và bộ D sử dụng chất ma túy là của S. Trong lúc đang sử dụng thì P xin cho sử dụng ma túy chung thì S đưa bộ dụng cụ cho P sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy thì S mang giấu dụng cụ vào chỗ đựng nước của bồn cầu trong nhà vệ sinh.

Riêng Phan Văn T chỉ đến chơi và không sử dụng ma túy cùng với Võ Hoàng S và Châu Mỹ P.

Cơ quan điều tra đã thu giữ và niêm phong theo quy định:

- 01 chai nhựa có nắp màu trắng trên nắp có lỗ, lỗ thứ nhất gắn một ống nhựa màu tím (dạng ống hút); lỗ thứ hai gắn một ống thuỷ tinh được uốn cong có một đầu phình dạng hình cầu bên trong bám dính chất màu đen-xám (ký hiệu M1).

- 01 ống nhựa (ống hút) bên trong bám dính tinh thể màu trắng (ký hiệu M2).

- 01 bấm móng tay.

- 01 bật lửa màu trong suốt.

Tại bản Kết luận giám định số: 2055/KL-KTHS ngày 08/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

- Chất màu đen - xám ký hiệu M1 bám dính bên trong ống thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại ma túy Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu ở dạng vết;

- Chất màu trắng ký hiệu M2 bám dính bên trong đoạn ống nhựa được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại ma túy Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu ở dạng vết.

Bản Cáo trạng số: 44/CT – VKS-KV10 ngày 22/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai truy tố bị cáo Võ Hoàng S về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo Võ Hoàng S khai báo thành khẩn hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai luận tội bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Hoàng S như bản cáo trạng. Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội trong trường hợp tái phạm. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Võ Hoàng S phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; áp dụng Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: trong quá trình Điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các chứng cứ tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; các tài liệu chứng cứ do bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về chứng cứ. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. [2] Về hành vi phạm tội: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Võ Hoàng S đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản xét nghiệm chất ma túy, Bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập, có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể: ngày 02/9/2025 tại nhà của S tại khu phố P, phường B, S lấy ma túy đã mua trước đó bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy (bao gồm một chai nhựa, có gắn ống thủy tinh và ống hút) để sử dụng. Khi S đang sử dụng ma túy thì Châu Mỹ P nhìn thấy và xin S cho P sử dụng ma túy cùng với S thì được S đồng ý. Cả hai sử dụng bật lửa đốt nóng ống thủy tinh cho ma túy tạo thành khói rồi ngậm ống hút để hút khói ma túy vào cơ thể. Bị cáo S cùng P hút hết số ma túy có trong ống thủy tinh thì nghỉ. Như vậy Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai truy tố bị cáo Võ Hoàng S về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là tổ chức đưa ma túy vào cơ thể người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy và dùng nhà ở của mình để cùng với C P sử dụng ma túy. Với các hành vi như vậy thì bị cáo đã phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, phạm khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Bị cáo phạm tội một cách đơn giản, do bản thân bị cáo có nhu cầu sử dụng ma túy nên lấy ma túy đã chuẩn bị sẵn để sử dụng. Ban đầu bị cáo không có ý thức tổ chức cho P sử dụng ma túy mà do P thấy bị cáo sử dụng thì xin cho P sử dụng cùng. Hành vi phạm tội của bị cáo hoàn thành khi bị cáo đồng ý để P sử dụng ma túy cùng với mình. Sau khi bị cơ quan điều tra khởi tố thì bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng là Tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. [6] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra đã thu giữ, niêm phong các vật chứng gồm:

- 01 chai nhựa có nắp màu trắng trên nắp có lỗ, lỗ thứ nhất gắn một ống nhựa màu tím (dạng ống hút); lỗ thứ hai gắn một ống thuỷ tinh được uốn cong có một đầu phình dạng hình cầu bên trong bám dính chất màu đen-xám.

- 01 ống nhựa (ống hút) bên trong bám dính tinh thể màu trắng.

- 01 bấm móng tay.

- 01 bật lửa màu trong suốt.

Các vật chứng này là dụng cụ để bị cáo dùng sử dụng ma túy, không có giá trị trong đời sống hàng ngày nên cần tịch thu tiêu hủy. Về Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai đối với bị cáo tại phiên tòa về tội danh, hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng S (tên gọi khác: S Cô N) phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Võ Hoàng S (tên gọi khác: Sơn C N) 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/9/2025.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

- 01 chai nhựa có nắp màu trắng trên nắp có lỗ, lỗ thứ nhất gắn một ống nhựa màu tím (dạng ống hút); lỗ thứ hai gắn một ống thuỷ tinh được uốn cong có một đầu phình dạng hình cầu. Được niêm phong theo quy định.

- 01 bật lửa màu trong suốt, tình trạng đã hư hỏng không còn giá trị sử dụng.

- 01 bấm móng tay, tình trạng đã qua sử dụng.

( biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: KV10/2026/031 ngày 09/01/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Đồng Nai)

4. Về án phí: Căn cứ danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Võ Hoàng S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ