- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:11/2026/HS-PT Ngày: 07/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Quang.
Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr và ông Nguyễn Văn Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Khổng Thị Hoa – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Vương Chí Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 348/2025/TLPT-HS ngày 17/11/2025 đối với bị cáo Lê Văn B phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2025/HS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân dân khu vực 9, tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Văn B, sinh năm 2000, tại tỉnh Thanh Hóa; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 038200029730; cấp ngày 09/8/2021; Nơi cấp: Cục QLHC về TTXH; nơi cư trú: Thôn Bình Hòa, xã Ea Mdroh, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đào, sinh năm 1971 và bà Lê Thị Huệ, sinh năm 1977; bị cáo có vợ là Đinh Thị Hoa, sinh năm 1999 và 01 con, sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 27/12/2024, bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Ngày 01/4/2025, có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk khởi tố đến ngày 29/7/2025, bị Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk xử phạt 01 (Một) năm tù. Hiện đang chấp hành án tại Phân trại tạm giam Buôn Ma Thuột – Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Đắk Lắk. Có mặt tại phiên toà.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 03 bị cáo không có kháng cáo, kháng nghị.
NỘI D NG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 12/2024, Trần Hưng Sang (sinh năm: 2001; nơi thường trú: Thôn Hiệp Đạt, xã Ea M’Droh, tỉnh Đắk Lắk) có nhu cầu tìm mua pháo hoa nổ do nước ngoài sản xuất để bán kiếm lời. Sang đã hỏi Phạm Ngọc Trọng (sinh năm 2001, HKTT: Số 126, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, xã Quảng Phú, tỉnh Đắk Lắk) về việc có biết ai bán pháo hoa nổ không. Do có mối quan hệ là anh em họ trong gia đình nên Phạm Ngọc Trọng biết Phạm Đình Khanh, sinh năm: 1991; nơi thường trú: Thôn Nhơn Khánh, xã Sa Thầy, tỉnh Quảng Ngãi có quen biết người bán pháo hoa nổ do nước ngoài sản xuất (gọi tắt là pháo hoa nổ) nên đã chủ động liện hệ với Phạm Đình Khanh tìm mua hộ pháo hoa nổ, loại 49 ống phóng do nước ngoài sản xuất. Sau khi Khanh đồng ý, Trọng nói với Sang có mối bán pháo loại 49 ống phóng do nước ngoài sản xuất với giá 500.000 đồng/hộp. Trần Hưng Sang đã nhờ Phạm Ngọc Trọng mua giúp 20 hộp pháo hoa loại 49 ống phóng thì Phạm Ngọc Trọng đồng ý. Tuy nhiên, do chưa có tiền nên Sang chưa nhờ Trọng mua ngay. Sau đó, vì thấy giá pháo rẻ nên Sang liên hệ Lê Văn B (SN 2000, trú tại xã Ea M'Droh, tỉnh Đắk Lắk) để hỏi có mua pháo không. B đồng ý và đặt mua 10 hộp với giá 500.000 đồng/hộp nhằm mục đích sử dụng trong dịp tết. Sau đó, Trần Hưng Sang liên hệ lại với Phạm Ngọc Trọng để hỏi cụ thể về hình thức mua bán thì Phạm Ngọc Trọng sử dụng tài khoản messenger mang tên “Phạm Trọng” chia sẻ tài khoản zalo của người bán pháo là “Hoàng Văn Tuấn” đến tài khoản messenger mang tên “Trần Hưng Sang” Sang kết bạn với tài khoản zalo “Hoàng Văn Tuấn” hỏi mua thêm 22 hộp pháo hoa nổ, thành tổng số 42 hộp, loại pháo hoa nổ do nước ngoài sản xuất, loại pháo 49 ống phóng thì được tài khoản zalo “Hoàng Văn Tuấn” thông báo lại mua số lượng nhiều nên giảm giá bán còn 400.000 đồng/hộp.
Từ đây, Trọng là người trung gian liên lạc giữa Sang và Khanh, đồng thời nhiều lần nhận tiền từ Sang để chuyển khoản cho Khanh đặt cọc mua pháo. Ngày 07/12/2024, Phạm Đình Khanh sử dụng tài khoản zalo “Khanh” liên lạc đến tài khoản zalo “Trọng Phạm” nói người mua pháo đặt cọc tiền mua pháo trước số tiền 7.000.000 đồng. Trọng liên hệ cho Sang nói bên bán pháo yêu cầu bên mua cọc trước số tiền mua pháo 7.000.000 đồng. Đồng thời Lê Văn B đã hai lần chuyển tiền cho Trần Hưng Sang với tổng số tiền 5.000.000 đồng để mua pháo hoa nổ. Lần thứ nhất vào ngày 07/12/2024, B nhờ Đinh Thị Hoa (vợ của B, sinh năm: 1999; nơi thường trú: Thôn Bình Hòa, xã Ea M’Droh, tỉnh Đắk Lắk) chuyển cho mình 1.000.000 đồng, sau đó B sử dụng số tài khoản 0231000637169 thuộc ngân hàng Vietcombank, mang tên Lê Văn B chuyển khoản đến số tài khoản 8626.052.001 thuộc ngân hàng MB Bank, mang tên Trần Hưng Sang số tiền 1.000.000 đồng để cọc tiền mua pháo hoa nổ. Lần thứ hai vào ngày 15/12/2024 B nhờ Hoa chuyển cho Sang số tiền 4.000.000 đồng, Hoa sử dụng số tài khoản 1013032459 thuộc ngân hàng Vietcombank chuyển khoản đến số tài khoản 8626.052.001 thuộc ngân hàng MB Bank, mang tên Trần Hưng Sang số tiền 4.000.000 đồng. Cả hai lần chuyển tiền nêu trên thì Đinh Thị Hoa đều không biết mục đích chuyển tiền là để làm gì.
Ngày 07/12/2024 và ngày 09/12/2024, 12/12/2024, Sang sử dụng tài khoản ngân hàng MB Bank 8626.052.001 mang tên Trần Hưng Sang chuyển khoản đến số tài khoản 0356.437.478 thuộc ngân hàng MB Bank, mang tên Phạm Ngọc Trọng tổng cộng 8.500.000 đồng tiền cọc mua pháo hoa nổ, qua ba lần chuyển khoản để Trọng chuyển tiếp cho Khanh. Vào ngày 07/12/2024, 09/12/2024, Trọng sử dụng số tài khoản 0356.437.478 thuộc ngân hàng MB Bank mang tên Phạm Ngọc Trọng chuyển khoản đến số tài khoản 19036866012011 thuộc ngân hàng Techcombank mang tên Phạm Đình Khanh qua 3 lần chuyển khoản với tổng số tiền 7.000.000đ. Đến ngày 12/12/2024, Trọng tiếp tục sử dụng số tài khoản 0356.437.478 chuyển khoản đến số tài khoản 9944.263.337 thuộc ngân hàng Vietcombank mang tên Phạm Đình Khanh số tiền 1.500.000 đồng, tổng cộng Trọng đã chuyển 8.500.000 đồng tiền cọc mua pháo hoa nổ, qua bốn lần chuyển khoản cho Khanh để Khanh chuyển tiếp cho “Hoàng Văn Tuấn”.
Đến ngày 14/12/2024, tài khoản zalo “Hoàng Văn Tuấn” gọi cho Trần Hưng Sang nói địa điểm nhận pháo hoa nổ tại khu vực ngã ba Hàm Rồng thuộc huyện Cư Prông, tỉnh Gia Lai (nay là xã Ia Tôr, tỉnh Gia Lai). Đồng thời tài khoản Zalo “Hoàng Văn Tuấn” có liên lạc với Phạm Đình Khanh để hẹn giao hoa pháo nổ tại khu vực ngã ba Hàm Rồng và yêu cầu Khanh là người ra nhận pháo. Sau khi Khanh giao pháo cho Sang xong, yêu cầu Sang đưa B tiền mặt số tiền 8.300.000 đồng còn lại. Khoảng 09 giờ, ngày 15/12/2024, Trần Hưng Sang gọi xe taxi đi từ nhà thuộc Thôn Hiệp Đạt, xã Ea M’Droh, tỉnh Đắk Lắk đến Tp. Pleiku, tỉnh Gia Lai (nay là Phường Pleiku, tỉnh Gia Lai). Trần Hưng Sang liên hệ với Phạm Ngọc Trọng xin mã QR tài khoản ngân hàng để chuyển tiền nhanh chóng. Do đang đi chơi B xe mô tô cùng Đinh Thị Trà My (SN 2008, trú TDP1, xã Quảng Phú), Trọng không thể tự gửi được mã QR của mình nên mượn mã QR tài khoản của My với lý do nhờ bạn chuyển tiền trả nợ. My đồng ý, chụp mã QR rồi để Trọng dùng tài khoản Messenger “Phạm Trọng” gửi cho Sang. Sau khi nhận được mã QR, Sang sử dụng tài khoản MB Bank số 8626.052.001 mang tên mình chuyển 7.000.000 đồng vào tài khoản của Trà My, đồng thời yêu cầu Trọng trừ thêm 1.000.000 đồng tiền nợ cũ, thành 8.000.000 đồng, số tiền thanh toán 42 hộp pháo hoa nổ. Nhận được tiền, My chuyển tiếp 6.900.000 đồng vào tài khoản MB Bank số 0356.437.478 của Trọng (Trọng cho My số tiền 100.000 đồng để uống cà phê). Sau đó, Trọng liên hệ với Phạm Đình Khanh để chuyển tiếp nhưng Khanh nói số tiền 8.300.000 đồng còn lại thống nhất Sang sẽ thanh toán cho người đàn ông trực tiếp bán pháo hoa nổ khi nhận hàng. Trọng báo lại cho Sang, đồng thời đã chuyển trả lại số tiền 8.000.000 đồng từ tài khoản của mình vào tài khoản của Sang để Sang trực tiếp thanh toán khi nhận pháo. Sau khi nhận lại 8.000.000 đồng từ Trọng, Sang trực tiếp liên hệ với tài khoản Zalo “Hoàng Văn Tuấn” và được hẹn giao pháo vào lúc 22 giờ ngày 15/12/2024 tại khu vực ngã ba Hàm Rồng.
Khoảng 21 giờ ngày 15/12/2024, Khanh đến điểm hẹn thì có 02 người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) đi 02 xe mô tô giao 03 thùng carton chứa 42 hộp pháo hoa nổ do nước ngoài sản xuất loại 49 ống phóng. Khanh đưa cho họ 8.500.000 đồng (tiền cọc mua pháo đã nhận từ Trọng trong các ngày 07, 09, 12/12/2024) và được “Hoàng Văn Tuấn” xác nhận đã nhận đủ. Đồng thời, “Hoàng Văn Tuấn” yêu cầu Khanh nhận thêm số tiền 8.300.000 đồng mua pháo còn lại từ Sang khi giao pháo cho Sang.
Đến khoảng 22 giờ, Sang đi taxi đến gặp Khanh, nhận 03 thùng carton chứa pháo hoa nổ. Do không có tiền mặt, được “Hoàng Văn Tuấn” chấp nhận giảm 300.000 đồng Sang xin chuyển khoản 8.000.000 đồng. Khanh đưa mã QR tài khoản Nguyễn Mạnh Dũng để Sang chuyển khoản, rồi Khanh sẽ thanh toán lại B tiền mặt cho “Hoàng Văn Tuấn”. Sau khi Sang chuyển khoản thành công, Khanh giao pháo hoa nổ cho Sang. Sang mang số pháo hoa nổ trên về cất giấu tại rẫy cà phê của người dân (rẫy ông Lịch) ở Pleiku. Rạng sáng 16/12/2024, Sang báo cho Trọng biết đã nhận đủ 42 hộp pháo. Trong ngày, Khanh tiếp tục thanh toán tiền mặt 8.000.000 đồng cho “Hoàng Văn Tuấn” qua 01 người đàn ông làm nghề chạy xe ôm (Khanh không biết họ tên, đây là lần đầu gặp, do mặc đồ dài kín nên Khanh không thấy được đặc điểm nhận dạng của người đàn ông) đến gặp Khanh nhận số tiền 8.000.000 đồng cho “Hoàng Văn Tuấn” tại khu vực ngã ba Hàm Rồng.
Sáng ngày 16/12/2024, Sang gọi điện cho B sang Gia Lai để chở pháo hoa nổ và đón gia đình Sang về Đắk Lắk, thì B đồng ý. B rủ Hoa điều khiển xe ô tô BKS 47A-773.87 sang Gia Lai. Khoảng 11 giờ ngày 16/12/2024, B cùng vợ là Đinh Thị Hoa điều khiển ô tô BKS 47A-773.87 đến ngã ba Hàm Rồng đón Trần Hưng Sang. Sau khi gặp nhau, Sang dẫn B và Hoa về thành phố Pleiku ăn cơm. Sau đó, Sang dẫn vợ chồng B đến rẫy cà phê của người dân nơi cất giấu pháo trước đó để lấy 03 thùng các tông được dán kín bên trong chứa pháo hoa nổ bỏ vào trong cốp xe ô tô, rồi quay lại đón vợ Sang là Dương Thị Ly Na (sinh năm: 2001và con gái Trần Ngọc Hà My, sinh năm: 2023; đều trú tại: Thôn Hiệp Đạt, xã Ea M’Droh, tỉnh Đắk Lắk), đang ở Plei Ku rồi đi về Đắk Lắk. Đến khoảng 17 giờ 40 phút ngày 16/12/2024, khi Đinh Thị Hoa điều khiển xe ô tô BKS 47A-773.87 đi đến Km 1668 + 400, đường Hồ Chí Minh thuộc thôn 1, xã Ea H'Leo, huyện Ea H'Leo (nay là thôn 1, xã Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk) thì tổ công tác của Trạm CSGT Krông Búk, thuộc Phòng CSGT Công an tỉnh Đắk Lắk dừng xe, kiểm tra, tại thời điểm kiểm tra phát hiện trong cốp sau xe ô tô BKS 47A-773.87 có 03 thùng cát tông, bên trong có chứa 42 hộp pháo hoa nổ do nước ngoài sản xuất, loại 49 ống phóng. Sau đó, Cơ quan Công an đã lập biên bản thu giữ và niêm phong số pháo hoa nổ nêu trên theo quy định.
Ngày 15/7/2025, Trần Hưng Sang có đơn tố cáo hành vi phạm tội của Phạm Ngọc Trọng. Qua quá trình điều tra, xác minh ngày 16/7/2025, Phạm Ngọc Trọng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình với Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk, thừa nhận việc sử dụng số tài khoản 0356437478 thuộc ngân hàng MB Bank mang tên Phạm Ngọc Trọng chuyển khoản đến số tài khoản 19036866012011 thuộc ngân hàng Techcombank mang tên Phạm Đình Khanh qua 3 lần chuyển khoản với tổng số tiền 7.000.000đồng. Ngày 12/12/2024 chuyển khoản đến số tài khoản 9944.263.337 thuộc ngân hàng Vietcombank mang tên Phạm Đình Khanh số tiền 1.500.000 đồng để cọc tiền mua 42 hộp pháo hoa nổ do nước ngoài sản xuất, loại 49 ống phóng. Ngày 24/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk khởi tố bị can đối với: Phạm Đình Khanh, Phạm Ngọc Trọng.
Tại Bản kết luận giám định số 22/KL-KTHS ngày 22/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: 42 (bốn mươi hai) hộp giấy, gồm: 41 (bốn mươi mốt) hộp giấy kín có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài dán giấy màu in chữ “KS4-4911KL - RICHBOOM – 49 SHOTS” và 01 (một) hộp giấy có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc nilon trong suốt, bên trong mỗi hộp đều có 49 (bốn mươi chín) vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau, đựng trong 03 (ba) thùng giấy các tông chuyển đến giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 69,8 kg.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2025/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Đắk Lắk, đã quyết định:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn B phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
2. Về hình phạt:
+ Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 năm tù của Bản án số 03/2025/HSST ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – tỉnh Đắk Lắk, nên bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 4 năm 2025 (Theo Bản án số 03/2025/HSST ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Đắk Lắk).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xét xử đối với các bị cáo Trần Hưng Sang, Phạm Đình Khanh, Phạm Ngọc Trọng, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 17/10/2025, bị cáo Lê Văn B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo và nhận định: Mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Lê Văn B mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt là thoả đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết mới để xem xét, do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 16/2025/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo không tranh luận gì thêm và chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo Lê Văn B tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng tháng 12/2024, Trần Hưng Sang nảy sinh ý định mua pháo hoa nổ do nước ngoài sản xuất để sử dụng trong dịp tết và bán kiếm lời. Vì thấy giá pháo hoa rẻ Sang đã liên hệ với Lê Văn B xem có mua pháo hoa không và B đồng ý. B đã đặt mua 10 hộp pháo hoa từ Trần Hưng Sang với mục đích sử dụng trong dịp tết, đồng thời hai lần chuyển cho Sang tổng cộng 5.000.000 đồng để cọc tiền mua pháo hoa nổ và cùng với Sang nhận 03 thùng cát tông chứa 42 hộp pháo hoa nổ từ Gia Lai về Đắk Lắk. Ngày 16/12/2024, khi B và Sang đang chở pháo hoa nổ từ Gia Lai về Đắk Lắk, thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện, thu giữ 42 hộp pháo hoa nổ do nước ngoài sản xuất, có tổng khối lượng 69,8 kg. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Văn B về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Văn B, thấy rằng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Lê Văn B 02 năm 06 tháng tù là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Bị cáo B có nhân thân xấu, ngày 27/12/2024, bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với tội “Tàng trữ hàng cấm”. Trong thời gian tại ngoại, ngày 01/4/2025, bị cáo lại tiếp tục phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đắk Lắk xử phạt 01 (Một) năm tù theo Bản án số 03/2025/HSST ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Đắk Lắk. Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo không cung cấp chứng cứ gì mới thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn B, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Q YẾT Đ NH
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn B.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 30/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk.
[2]. Về Điều luật và hình phạt:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù của Bản án số 03/2025/HSST ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – tỉnh Đắk Lắk. Do đó, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 4 năm 2025 (Theo Bản án số 03/2025/HSST ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Đắk Lắk).
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lê Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Toà PT TANDTC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV CA tỉnh Đắk Lắk; - Công an tỉnh Đắk Lắk (PV06); - CQĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - TAND khu vực 9; - VKSND khu vực 9; - Phòng THADS khu vực 9; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Minh Quang |