- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị B khởi kiện vụ án tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con với ông Dương Lê Anh T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Nghị định số 128/2025/NĐ-CP Quy định về phân quyền, phân cấp…; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22-7-2025 V/v tranh chấp về cấp dưỡng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Bé và ông Tô Ngọc Liêm
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11-An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11- An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 264/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc “tranh chấp về cấp dưỡng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 385/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1989; địa chỉ: số D ấp T, xã T, huyện T (nay là xã T), tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Dương Lê Anh T, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C (nay là xã L), tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày: Bà B và ông Dương Lê Anh T thuận tình ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 351/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Tại thời điểm đó, ông T không có việc làm, không có khả năng cấp dưỡng cho nên bà B đồng ý một mình nuôi con không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại, ông T có việc làm ổn định, có thu nhập cho nên bà B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết để ông T phải có nghĩa vụ, trách nhiệm cấp dưỡng cho con là cháu Dương Gia N, sinh ngày 17/8/2021, để phụ bà B lo cho con vì cháu cần những nhu cầu thiết yếu như ăn uống, giáo dục. Bà B một mình nuôi con, vừa phải đi làm, vừa chăm con, rất cần sự hỗ trợ để cháu N có cuộc sống ổn định, bà B yêu cầu ông T hỗ trợ cho con mỗi tháng là 3.000.000đồng cho đến khi bé đủ 18 tuổi.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B xác định là không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông T có thu nhập ổn định hằng tháng, cho nên bà B yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Dương Lê Anh T không gửi ý kiến cho Tòa án, vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của các đương sự đúng theo quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 82, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thj B1; buộc ông Dương Lê Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Dương Gia N, sinh ngày 17/8/2021 với mức tiền cấp dưỡng 1/725.000đồng/tháng kể từ ngày 19/10/2023 đến khi bé N đủ 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Nguyễn Thị B khởi kiện vụ án tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con với ông Dương Lê Anh T. Ông T có nơi cư trú trên địa bàn xã L, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 11-An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Ông Dương Lê Anh T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thụ lý vụ án “Tranh chấp về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn” với bị đơn là ông Lê Dương Anh T1. Tuy nhiên, tại phiên tòa đã xác định được ông T1 có họ và tên là Dương Lê Anh T và đương sự tranh chấp về cấp dưỡng được quy định tại khoản 5 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án xác định ông T có họ và tên là Dương Lê Anh T và quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về cấp dưỡng”.
Về nội dung: Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 351/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Theo Quyết định, bà B không yêu cầu cho nên, đã ghi nhận “ông T không phải cấp dưỡng nuôi con”. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, ông T không có việc làm, không có khả năng cấp dưỡng cho nên bà B đồng ý một mình nuôi con không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại, theo nguyên đơn trình bày là ông T có việc làm ổn định, có thu nhập cho nên bà B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết để ông T phải có nghĩa vụ, trách nhiệm cấp dưỡng cho con là cháu Dương Gia N, sinh ngày 17/8/2021, để phụ bà B lo cho con vì cháu cần những nhu cầu thiết yếu như ăn uống, giáo dục. Bà B một mình nuôi con, vừa phải đi làm, vừa chăm con, rất cần sự hỗ trợ để cháu N có cuộc sống ổn định, bà B yêu cầu ông T hỗ trợ cho con mỗi tháng là 3.000.000đồng cho đến khi bé đủ 18 tuổi.
Hội đồng xét xử thấy rằng, bà B yêu cầu cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000đồng cho đến khi bé đủ 18 tuổi, Tòa án đã ban hành thông báo số 222TB-TA ngày 06/5/2025, yêu cầu bà B cung cấp chứng cứ chứng minh ông T có thu nhập ổn định hằng tháng để cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000đồng nhưng bà B không cung cấp cho Tòa án, chính vì vậy, không có căn cứ để buộc ông T cấp dưỡng mỗi tháng là 3.000.000đồng. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, được hướng dẫn theo Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và Nghị định 128/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ, thì mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.725.000đồng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ, cho nên Tòa án cần buộc ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung định kỳ hàng tháng số tiền là 1.725.000đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào,
- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 82, 83, 84, 107, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B.
1) Buộc ông Dương Lê Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Dương Gia N, sinh ngày 17/8/2021, định kỳ hằng tháng số tiền là 1.725.000đồng (Bằng chữ: Một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo các trường hợp quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2) Về án phí: Buộc ông Dương Lê Anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng).
3) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 11-An Giang; - TAND tỉnh An Giang; - THADS tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hùng |