vanban.org

Bản án 11/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Tuyên án 09/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo TTĐ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo TTĐ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 01 năm 2023. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Thành Được - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo TTĐ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 11/2023/HS-ST
Ngày : 09 -5- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Thu Thủy;

2. Ông Nguyễn Ngọc Bờ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2023/HSST ngày 24 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

TTĐ, sinh năm 1991 tại An Giang; Nơi cư trú: Ấp TT, xã NH, huyện AP, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo cao đài; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trương Văn Quyến và bà Mai Thị Cúc; vợ là Trần Thị Phượng Ngân; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2016;

Tiền án: Ngày 25/10/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong án án phạt từ ngày 14/6/2021 nhưng chưa chấp hành xong án phí hình sự và án phí dân sự;

Ngày 22/08/2011, bị Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Thực hiện không đúng quy định của pháp luật về việc tập trung đông người ở nơi công cộng”.

Ngày 30/8/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 3 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong ngày 13/6/2014.

Ngày 19/9/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong ngày 28/02/2017.

Ngày 26/6/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện tỉnh Bình Dương, thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 27/12/2018;

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08 tháng 01 năm 2023 đến nay;

Bị cáo có mặt.

Những người tham gia tố tụng:

1. Bị hại:

- Ông MNT, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp Bình Thuận, xã Bình Long, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

- Bà HTTL, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp Hòa Khánh, xã Hòa An, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp; (vắng mặt)

- Tống Duy Khanh, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp LK, xã LH, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp; (vắng mặt)

2. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

- Ông NMK, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khóm VT, TTCD, huyện CD, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

- Bà TTMD, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số 118/1A đường Trần Phú, phường CR, quận NK, thành phố Cần Thơ; (vắng mặt)

- Bà TTCN, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp Phú Thuận B, xã Phú Lâm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

3. Những người làm chứng:

- MTH(vắng mặt)

- TTPL(vắng mặt)

- MQT(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án Đc tóm tắt như sau:

- Vụ thứ nhất: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 12/9/2022, TTĐ cùng NMK, MTH(bạn Đc) uống rượu tại quán “Lắm Mập” thuộc Khóm VT, TTCD, huyện CD, trong lúc uống rượu Đc có hỏi mượn xe mô tô biển số 67D1-777.59 của Khoa để đi công việc thì Khoa đồng ý. Khi mượn xe xong Đc điều khiển xe chở Hiếu đến cửa hàng điện thoại đi động “Trường Thành 2” thuộc khóm Bình Hòa, thị trấn Cái Dầu, huyện Châu Phú do MNT làm chủ để mua ốp lưng điện thoại. Tại đây, Đc xuống xe đi vào trong còn Hiếu đứng bên ngoài đợi, khi vào bên trong lợi dụng lúc Trường không quan sát, Đc lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS và 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5, đang để trên quầy bỏ vào túi quần rồi đi ra bên ngoài điều khiển xe mô tô chở Hiếu đến cửa hàng điện thoại đi động “Cẩm Nhung” thuộc ấp Bình Minh, xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú do TTCN làm chủ để chạy chương trình điện thoại. Riêng Trường sau khi phát hiện bị mất trộm điện thoại đã đến Công an thị trấn Cái Dầu trình báo sự việc. Nhận Đc tin báo Công an thị trấn Cái Dầu tiến hành mời Đc về trụ sở làm việc, qua làm việc Đc thừa nhận hành vi phạm tội.

Vụ thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 08/01/2023, TTĐ điều khiển xe mô tô biển số 65H2-3457 đến cửa hàng điện thoại di động “Duy Khánh” thuộc ấp Phú Hòa II, xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang do HTTL làm chủ Đc lấy điện thoại di động hiệu Iphone XS đưa cho Ly để cầm. Trong lúc đang thỏa thuận giá lợi dụng lúc Ly thiếu chú ý, Đc dùng tay lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 5 trong tủ trưng bày, rồi cất giấu vào túi quần phía sau bên trái, thì bị Ly và chồng là Tống Duy Khanh phát hiện và trình báo Công an xã Bình Hòa, huyện Châu Thành.

Ngày 08/11/2022, Đc bị khởi tố vụ án, bị can và bắt bị can để tạm giam để điều tra. Ngày 06/01/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Châu Phú ra quyết định truy nã. Đến ngày 08/01/2023, Đc bị bắt theo quyết định truy nã và Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Châu Phú ra quyết định đình nã.

Ngày 06/02/2023, Đc bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Thành, tỉnh An Giang khởi tố điều tra.

* Căn cứ Bản kết luận định giá số 30/KL-HĐĐGTS ngày 16/9/2022 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Phú, kết luận:

01 điện thoại di động hiệu Iphone XS 64GB, màu vàng gold trị giá 6.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5, màu bạc trị giá 3.000.000 đồng. Tổng trị giá 9.500.000 đồng.

* Căn cứ Bản kết luận định giá số 02/KL.HĐ ngày 13/01/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, kết luận:

01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO RENO5, màu xanh. Trị giá 3.600.000 đồng

Bị hại MNT, Tống Duy Khanh, HTTL trình bày phù hợp với nội dung vụ án, hiện tại các ông bà đã nhận lại điện thoại, không yêu cầu bồi thường, xử lý theo quy định pháp luật.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Trình bày phù hợp với nội dung vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKSCP-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 Đc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trương Văn Đc thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án và phù hợp lời khai trong giai đoạn điều tra, bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú trình bày lời luận tội: Giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử bị cáo, cụ thể:

- Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 Đc sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt: Bị cáo TTĐ mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về vật chứng: Xử lý theo quy định pháp luật, đối với 01 xe mô tô biển số 65H2-3457, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tên TTMD, bị cáo sử dụng xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Bị cáo sử dụng 01 điện thoại di động Iphone XR bị cáo dùng để cầm tại tiệm điện thoại của Tống Duy Khanh nên không tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước nhưng tiếp tục quản lý phát mãi đảm bảo thi hành các khoản án phí mà bị cáo phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã Đc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.

Về thẩm quyền: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản hai lần, giá trị tài sản mỗi lần phạm tội đều trên 2.000.000 đồng, thỏa mãn quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; hành vi Đc thực hiện trên địa bàn huyện Châu Phú và huyện Châu Thành. Tuy nhiên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú tiến hành điều tra và kết thúc điều tra tại huyện Châu Phú bên hành vi phạm tội tại Châu Thành nhập vào vụ án xảy ra tại Châu Phú là đúng quy định pháp luật tố tụng hình sự. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử vụ án là đúng thẩm quyền theo quy tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người tham gia tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã Đc Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án: Qua tranh tụng tại phiên tòa và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định bị cáo TTĐ đã có hành vi: Ngày 12/9/2022, Đc đến cửa hàng điện thoại di động “Trường Thành 2”, lợi dụng sơ hở của chủ tiệm, Đc đã lén lút lấy trộm tài sản là 02 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng Gold và OPPO RENO5 màu bạc của ông MNT, trị giá 02 điện thoại di động là 9.500.000đ; tiếp theo ngày 08/01/2023 đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản là điện thoại di động hiệu OPPO RENO 5 của Tống Duy Khanh tại cửa hàng điện thoại “Duy Khanh”, trị giá 3.600.000đ.

Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của hai lần thực hiện hành vi phạm tội là 13.100.000 đồng.

Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức Đc việc lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là điện thoại di động tại cửa hàng điện thoại của ông MNT và ông Tống Duy Khanh. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, gây nguy hiểm cho xã hội, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 173 tội trộm cắp tài sản quy định như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản hai lần, mỗi lần thực hiện hành vi phạm tội đều cấu thành tội phạm, do đó bị cáo thỏa mãn tình tiết tăng nặng là phạm tội hai lần trở lên. Đồng thời, bị cáo chưa Đc xóa án tích nhưng tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm. Từ đó, Hội đồng xét xử xác định bị cáo có các tình tiết tặng nặng theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 Đc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản kịp thời thu hồi trả lại cho bị hại. Như vậy, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo mua hàng tại cửa hàng điện thoại hoặc đến cầm điện thoại tại cửa hàng điện thoại, lợi dụng lúc người quản lý tiệm sơ hở thì bị cáo lén lút lấy trộm điện thoại của chủ tiệm điện thoại. Sau khi chiếm đoạt Đc 02 điện thoại của ông MNT đang bị công an huyện Châu Phú truy nã thì trong thời gian bị truy nã, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại di động của Tống Duy Khanh và bị bắt giữ. Bị cáo từng chấp hành án về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng vẫn tiếp tục phạm tội, bị cáo có nhân thân xấu, cả hai lần thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đều thực hiện vào ban ngày, chứng tỏ sự manh động, xem thường pháp luật của bị cáo.

Căn cứ vào các quy định pháp luật, các yếu tố nhân thân, động cơ, mục đích phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian để đảm bảo tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo không nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự và 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Phú thu giữ: 01 xe mô tô biển kiểm số 67D1-777.59 (đã trao trả cho NMK tại biên bản ngày 04/12/2022); 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS 64GB và 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 (đã trao trả cho bị hại MNT tại biên bản ngày 20/10/2022).

- Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Thành thu giữ: 01 điện thoại di động OPPO RENO 5 (đã trao trả cho Tống Duy Khanh tại biên bản ngày 13/02/2023);

- Đối với 01 xe mô tô biển số 65H2-3457, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tên TTMD, bị cáo sử dụng xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Tại phiên tòa, bị cáo sử dụng 01 điện thoại di động Iphone XR mang đến cầm tại tiệm điện thoại “Duy Khanh”, việc cầm điện thoại không đủ căn cứ để xác định bị cáo giả vờ để tiếp cận tài sản, lẽ ra phải trả lại điện thoại cho bị cáo. Tuy nhiên, để đảm bảo thi hành án các khoản án phí nên tiếp tục quản 01 điện thoại di động Iphone XR phát mãi đảm bảo thi hành án.

Về án phí sơ thẩm:

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo TTĐ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Bị cáo TTĐ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 01 năm 2023.

2. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển số 65H2-3457, nhãn hiệu Wave, màu xanh, số khung NJ10*0420568, số máy 52FMH*00421558 (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong) kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 65H2-3457 mang tên TTMD.

- Tiếp tục quản lý 01 điện thoại di động Iphone Xr, màu đỏ (máy không lên nguồn đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong) để phát mãi đảm bảo thi hành án phí.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

3. Về án phí:

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo TTĐ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt Đc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Đc bản án hoặc bản án Đc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định Đc thi hành thì người Đc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, sự tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; thời hiệu thi hành án Đc thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ