vanban.org

Bản án 11/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 04/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N (tên gọi khác Chó N) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Hình phạt chính: Áp dụng Điểm b, c, i, q Khoản 2 Điều 251 tội Mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng Điểm b, h Khoản 2 Điều 255 tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Điểm s Khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự; Phạt bị cáo Nguyễn Văn N (tên gọi khác Chó N) 09 (chín) … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua ban trai phep chat ma tuy, to chuc su dung trai phep ma tuy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N (tên gọi khác Chó N) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:11/2022/HSST
Ngày: 04/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hoan;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Điều – Chủ tịch UBMTTQVN phường Hòa Hiệp Trung; ông Đặng Hoàng Phòng – Ủy viên thường trực UBMTTQVN thị xã Đông Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ – Thư ký tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 và ngày 04 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST-HS ngày 21/3/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N (tên gọi khác Chó N), sinh năm 1997; ĐKTT: thôn Cảnh P, xã Hòa Tân Đ, thị xã Đông H, tỉnh Phú Yên; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1970 và bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1973;

Tiền án: 02:

- Ngày 24/9/2018, bị TAND huyện Tây Hòa áp dụng khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong bản án ngày 10/3/2019.

- Ngày 06/5/2020, bị TAND huyện Tây Hòa áp dụng khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2021.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 22/6/2016, bị Công an xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (đã chấp hành nộp phạt).

- Ngày 17/4/2017, bị Công an huyện Tây Hòa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tài sản (đã chấp hành nộp phạt).

- Ngày 27/11/2019, bị Công an huyện Tây Hòa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác (đã chấp hành nộp phạt).

- Ngày 10/02/2020, bị Công an huyện Tây Hòa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi cầm cố công cụ hỗ trợ (đã chấp hành nộp phạt).

- Ngày 14/01/2022, bị TAND huyện Tây Hòa áp dụng điểm e khoản 2 Điều 170 BLHS xủ phạt 04 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản (án chưa có hiệu lực pháp luật do bị cáo có kháng cáo).

- Bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 31/8/2021 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Hòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N: ông Nguyễn N - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Lê Văn B, sinh ngày 20/11/1997;

Trú tại: thôn Phú K, xã Hòa Tân T, huyện Tây H, Phú Yên.

2. Nguyễn Thị Ý N, sinh ngày 20/8/1994;

Trú tại: Khu phố Phước L, phường Hòa Hiệp B, thị xã Đông H, Phú Yên.

3. Phan Hoàng Khánh R, sinh ngày 28/4/ 1996;

Trú tại: Khu phố A, phường Hòa V, thị xã Đông H, tỉnh Phú Yên

4. Nguyễn Văn C, sinh ngày 12/3/2003;

Trú tại: Khu phố Phước L, phường Hòa Xuân T, thị xã Đông H, Phú Yên.

5. Trương Nhật T, sinh ngày 12/12/1998;

6. Lê Thanh T, sinh ngày 25/5/2000

Đồng trú tại: Khu phố B, phường Hòa V, thị xã Đông H, Phú Yên.

7. Nguyễn Quan T, sinh ngày 10/7/1997

Trú tại: thôn Vĩnh X, xã Hòa Tân Đ, thị xã Đông H, Phú Yên

8. Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 23/6/1996

Trú tại: thôn Phước Lộc B, xã Hòa T, thị xã Đông H, Phú Yên.

Tất cả đều vắng mặt.

Những người làm chứng:

1. Nguyễn Hữu T, sinh năm 1980;

Trú tại: thôn Cảnh P, xã Hòa Tân Đ, thị xã Đông H, tỉnh Phú Yên.

2. Trương Minh T, sinh ngày 17/3/2001;

Trú tại: thôn Hội C, xã Hòa Tân Đ, thị xã Đông H, tỉnh Phú Yên

3. Nguyễn Văn P, sinh năm 1970;

4. Huỳnh Thị T, sinh năm 1973;

5. Nguyễn Văn T, sinh năm 1983;

6. Nguyễn Văn V, sinh ngày 28/8/2006; có cha anh Nguyễn Văn P, sinh ngày 08/10/1970 và mẹ chị Huỳnh Thị T, sinh ngày 10/10/1973 là đại diện hợp pháp.

Đồng trú tại: thôn Cảnh P, xã Hòa Tân Đ, thị xã Đông H, Phú Yên.

Tất cả đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 15 giờ 30 phút ngày 31/8/2021, Công an thị xã Đông Hòa phối hợp với Công an xã Hòa Tân Đ kiểm tra nhà Nguyễn Văn N ở thôn Cảnh P, xã Hòa Tân Đ, thị xã Đông H phát hiện Năng, Lê Văn B, sinh năm 1997, trú tại thôn Phú K, xã Hòa Tân T, huyện Tây H; Nguyễn Thị Ý N, sinh năm 1994, trú tại khu phố Phước L, phường Hòa Hiệp B, thị xã Đông H và Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1996, trú tại thôn Phước Lộc B, xã Hòa T, thị xã Đông H đang sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng của N (phòng kế nhà vệ sinh và nhà bếp). Qua kiểm tra phát hiện một bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, trên dụng cụ còn bám dính chất màu nâu trắng dạng rắn. Kiểm tra túi xách của Nhi phát hiện bên trong có 01 bịch nilong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng. Ngoài ra, phát hiện tại khu vực nhà bếp 01 hộp giấy màu đen, bên trong hộp giấy có 01 hộp nhựa màu xanh, trong hộp nhựa này có 01 bịch nilong màu trắng trong suốt chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng và các dụng cụ dùng để phân lẻ ma túy bán. Qua làm việc, N khai nhận bịch nilong màu trắng trong suốt chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng thu giữ tại khu vực nhà bếp là ma túy đá, chất màu nâu trắng dạng rắn bám dính trên dụng cụ sử dụng là ma túy đá chưa sử dụng hết. Nhi khai nhận bịch nilong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng thu giữ trong túi xách của Nhi là ma túy đá. Công an thị xã Đông Hòa đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa tất cả các đối tượng có liên quan cùng tang vật về trụ sở Công an xã Hòa Tân Đ để làm việc.

Tại bản kết luận giám định số 256 ngày 06/9/2021 của Phòng KTHS Công an tỉnh Phú Yên kết luận: Tinh thể màu trắng trong bì nilon một mặt có hoa văn màu xanh (ký hiệu A1) có khối lượng 0,416 gam là ma túy loại Ketamine. Tinh thể màu trắng trong bì nilon trong suốt hàn kín (ký hiệu A2) có khối lượng 19,693 gam là ma túy loại Methamphetamine. Chất rắn màu trắng, mầu nâu bám dính trong bình cầu (ký hiệu A3) có khối lượng 0,121 gam là ma túy loại Methamphetamine. Chất lỏng trong suốt trong chai nhựa nắp màu vàng (ký hiệu A4) thể tích có 370ml có Methamphetamine.

Qua điều tra Năng khai nhận: Ngày 31/8/2021, B và N đến nhà N chơi, Năng nói B đi dọn phòng và đưa tiền cho B đi mua bia về nhậu, trong lúc nhậu N lấy ma túy đã chuẩn bị trước ra sử dụng rồi rủ B, N sử dụng ma túy, B và N đồng ý. Sau đó, H đến thì N rủ H sử dụng ma túy nhưng H từ chối. Kết quả thử nhanh nước tiểu N, B và N dương tính với ma túy.

Khoảng giữa tháng 8/2021, N mua của đối tượng tên H (chưa xác định rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) 1.200.000 đồng ma túy đá về sử dụng và bán lại kiếm lời. Ngày 28/8/2021, N dùng điện thoại hiệu Nokia có gắn thẻ sim số 0355.039.409 liên hệ với đối tượng tên H Cọt ở thị trấn Phú T, huyện Tây H (chưa xác định rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) mua 19,693 gam ma túy loại Methamphetamine với giá 5.500.000 đồng về sử dụng và phân lẻ bán lại kiếm lời. Quá trình điều tra đã xác định được từ ngày 20/8/2021 đến ngày 31/8/2021, Năng đã 05 lần bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng nghiện, cụ thể như sau:

Lần thứ 01: Khoảng 10 giờ ngày 20/8/2021, Trương Nhật T, sinh năm 1998 và Lê Thanh T, sinh năm 2000, cùng trú tại khu phố B, phường Hòa V, thị xã Đông H rủ nhau sử dụng ma túy, T điện thoại cho N qua Facebook “K Sky” bằng ứng dụng Messenger hỏi mua ma túy, N đồng ý. T và T góp mỗi người 150.000 đồng rồi cả hai đón xe taxi đến nhà Năng ở thôn Cảnh P, xã Hòa Tân Đ, thị xã Đông H gặp N, N bán cho T và Tố 01 bịch ma túy với giá 300.000 đồng.

Lần thứ 02: Khoảng 10 giờ ngày 23/8/2021, T và T rủ nhau sử dụng ma túy, T điện thoại cho N qua Facebook “K Sky” bằng ứng dụng Messenger hỏi mua ma túy, N đồng ý. T và T góp mỗi người 150.000 đồng rồi cả hai đón xe taxi đến nhà N, N bán cho T và T 01 bịch ma túy với giá 300.000 đồng.

Lần thứ 03: Khoảng 20 giờ ngày 25/8/2021, T và T rủ nhau sử dụng ma túy, T điện thoại cho N qua Facebook “K Sky” bằng ứng dụng Messenger hỏi mua ma túy, N đồng ý. T và T góp mỗi người 150.000 đồng rồi cả hai đón xe taxi đến nhà N, N bán cho T và T 01 bịch ma túy với giá 300.000 đồng.

Lần thứ 04: Khoảng 14 giờ ngày 31/8/2021, Nguyễn Văn C, sinh năm 2003, trú tại khu phố Phước L, phường Hòa Xuân T, thị xã Đông H và Phan Hoàng Khánh R, sinh năm 1996, trú tại khu phố B, phường Hòa V, thị xã Đông H rủ nhau sử dụng ma túy. C và R góp mỗi người 100.00 đồng rồi C điều khiển xe mô tô chở R đến nhà N, N bán cho C và R 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng.

Lần thứ 05: Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 31/8/2021, Nguyễn Quan T, sinh năm 1997, trú tại thôn Vĩnh X, xã Hòa Tân Đ, TX. Đông H đến nhà N hỏi mua ma túy, N bán cho T 01 bịch ma túy với giá 300.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 04/CT-VKS-ĐH ngày 19/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b, c, i, q khoản 2 Điều 251 và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa đã truy tố. Nay nhận ra sai phạm của mình xin Tòa xử nhẹ để bị cáo sớm trở về giúp đỡ gia đình.

Luật sư bào chữa cho bị cáo N: sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội của bị cáo đề nghị HĐXX tội “Mua bán trái phép chất ma túy” áp dụng Điểm b, c, i, q Khoản 2 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” áp dụng Điểm b, h Khoản 2 Điều 255; Điểm r, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Nguyễn Văn N tội “Mua bán trái phép chất ma túy” từ 07 đến 08 năm tù và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” từ 07 năm tù.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố sau khi phân tích hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” áp dụng Điểm b, c, i, q Khoản 2 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” áp dụng Điểm b, h Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: đề nghị HĐXX phạt bị cáo Nguyễn Văn Năng tội “Mua bán trái phép chất ma túy” từ 09 năm đến 10 năm tù và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự; tổng hợp hình phạt hai tội từ 16 năm 06 tháng đến 18 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam 31/8/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo cho cả hai tội.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS, đề nghị:

* Tịch thu tiêu hủy đối với:

+ 19,308 gam Methamphetamine còn lại sau giám định (thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Năng).

+ 0,354 gam Ketamine còn lại sau giám định (thu giữ của Nguyễn Thị Ý Nhi).

+ 0,069 gam Methamphetamine còn lại sau giám định (ma túy bên trong bình cầu ống thủy tinh).

+ 200ml chất lỏng trong suốt có Methamphetamine còn lại sau giám định.

+ 01 chai nhựa hiệu Thạch Bích có nắp vặn màu vàng cao 13cm, đường kính 5,5cm, đường kính miệng chai 2,5cm, trên nắp đục 02 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa dạng lò xo dài 46cm và 01 ống thủy tinh trong suốt dài 19cm có 01 đầu thẳng dẫn xuống chai nhựa dài 9,5cm phần còn lại dẫn ra bên ngoài có 01 đầu cong hình chữ U, đầu cong này cố định một khối thủy tinh có đường kính 1,5cm, trên khối thủy tinh có một lỗ trống hình tròn đường kính 0,6cm.

+ 01 bật lửa màu xanh nhãn hiệu 555 Vip Hoa Việt kích thước (7,6 x 2,2 x 01)cm.

+ 01 bật lửa tự chế có dán keo màu đen kích thước (4,2 x 02)cm có hình bầu dục, đầu trên có 01 ống nhựa và kim loại để dẫn khí ga đi ra cao 2,3cm đường kính 0,3cm.

+ 01 đèn led mini hiệu PARTY LIGHT màu đen kích thước (06 x 09 x 7,3)cm.

+01 dàn loa vi tính màu đen hiệu Sound Max 820, cấu tạo gồm 02 loa màu đen cùng kích thước (09 x 8,5 x 14)cm, đầu điều khiển kích thước (26 x 21 x 12,5)cm.

+ 01 hộp nhựa màu xanh kích thước (18 x 12 x 1,4)cm.

+ 01 hộp giấy màu xanh hiệu PQA Ngọc Tố Nữ kích thước (21 x 15 x 07)cm.

+ 01 cân điện tử màu trắng đỏ hiệu Manllor kích thước (09 x 5,5 x 02)cm.

+ 02 bật lửa hiệu Hoa Việt màu trắng có kích thước (08 x 2,5 x01)cm.

+ 01 bật lửa hiệu 555 màu trắng kích thước (7,6 x 2,2 x 01)cm.

+ 01 bật lửa màu tím không nhãn hiệu kích thước (3,7 x 02 x 19)cm.

+ 01 bật lửa màu tím không nhãn hiệu kích thước (7,2 x 03 x 1,3)cm.

+ 03 cây kéo bằng kim loại, trong đó có 01 cái cán bằng nhựa màu đen, kích thước lần lượt là (16 x 6,5)cm, (10,5 x 4,5)cm, (14 x 07)cm.

+ 01 ống nhựa hình trụ bên ngoài quấn băng keo đen dài 15,5cm, đường kính 1,1cm có một đầu cắt nhọn, một đầu bịt cố định bằng nắp nhựa màu vàng.

+ 01 ống thủy tinh trong suốt hình trụ dài 13cm đường kính 0,6cm có một đầu cố định và một đầu được nối với ống nhựa dài 04cm đường kính 0,7cm.

+ 03 túi nilong trong suốt có hai đầu được hàn kín, hai đầu hở có kích thước lần lượt là (1,5 x 2,5)cm, (5,3 x 2,5)cm, (04 x 2,5)cm.

* Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với:

+ 01 điện thoại đi động hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, loại bàn phím, số sêri 1: 356933114465026, số sêri 2: 35693311466021 bên trong có gắn thẻ sim số 0355039409 và thẻ sim số 0788281997 và 01 điện thoại đi động hiệu Sam Sung đã qua sử dụng, số IMEL 351389/22/78846519, bên trong không có gắn thẻ sim của bị cáo Nguyễn Văn N vì sử dụng vào mục đích phạm tội.

+ Buộc bị cáo phải giao nộp lại số tiền 8.100.000 đồng, gồm tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy là 1.400.000 đồng; tiền bị cáo bỏ ra để mua trái phép chất ma túy về bán là 6.700.000 đồng (đã tạm giữ của bị cáo 500.000 đồng, số tiền bị cáo còn phải giao nộp là 7.600.000đồng).

* Tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án:

01 thẻ nhớ màu trắng xám bạc có dòng chữ Sandisk Ultra 125GB micro SD và 01 đĩa DVD đã được niêm phong.

* Trả lại cho mẹ bị cáo bà Huỳnh Thị T số tiền 700.000 đồng (tạm giữ lúc bắt quả tang) vì là tiền mẹ của bị cáo đưa cho bị cáo để mua vật dụng sửa chữa nhà, không phải tiền do bị cáo có được từ việc bán trái phép chất ma túy.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Hòa, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố của đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, vắng mặt một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, người làm chứng nhưng họ đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, chấp nhận ý của Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292 và 293 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, với người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong và mở niêm phong vật chứng, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 31/8/2021, tại nhà Nguyễn Văn N ở thôn Cảnh P, xã Hòa Tân Đ, thị xã Đông H, N đã có hành vi chuẩn bị địa điểm, dụng cụ sử dụng, cung cấp ma túy và rủ Lê Văn B, Nguyễn Thị Ý N và Nguyễn Thị Ngọc H sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang.

Quá trình điều tra đã xác định được từ ngày 20/8/2021 đến ngày 31/8/2021, tại thôn Cảnh P, xã Hòa Tân Đ, thị xã Đông H, Nguyễn Văn N đã 05 lần bán trái phép chất ma túy, trong đó có 04 lần N bán trái phép chất ma túy cho cùng lúc 02 người (bán cho Tố và Tồn; C và R) và một lần bán cho T; ma túy thu giữ được có khối lượng 19,693 gam Methamphetamine.Thu lợi bất chính số tiền 1.400.000 đồng.

Xét bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 06/5/2020, bị cáo N bị TAND huyện Tây Hòa xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bản án xác định N phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2021. Trong thời gian chưa được coi là xóa án tích Năng tiếp tục phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cho thấy bị cáo Nguyễn Văn N đã tổ chức cho 03 người sử dụng trái phép chất ma túy (N, B, N); N đã tái phạm, trong thời gian chưa được coi là xóa án tích nhưng lại phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bản thân bị cáo biết rõ những tác hại ma túy gây ra cho sức khỏe, đời sống con người, gây nguy hại cho cộng đồng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương nhưng vì mục đích kiếm lợi nhuận cá nhân mà bất chấp pháp luật, nhiều lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện và bản thân sử dụng ma túy chủ mưu rủ người khác sử dụng ma túy; nên cần phải xử lý nghiêm khắc. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Do đó, bản Cáo trạng số: 04/CT-VKS-ĐH ngày 19/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b, c, i, q khoản 2 Điều 251 và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, vì thế chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; không chấp nhận ý kiến của luật sư đề nghị áp dụng điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS vì bị cáo không tự khai ra các lần mua bán trái phép chất ma túy mà cơ quan điều tra phải đấu tranh bằng nghiệp vụ nhiều lần bị cáo mới khai nhận; nên giảm một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo, rèn luyện tu dưỡng đạo đức sớm trở thành công dân tốt cho xã hội.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 5.000.000 đồng đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên để xử phạt nghiêm bị cáo, đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Không chấp nhận ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị báo đề nghị áp dụng điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS và mức hình phạt đối với bị cáo tội “Mua bán trái phép chất ma túy” từ 07 đến 08 năm tù và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” 07 năm tù; xử phạt nghiêm bị cáo, đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về xử lý vật chứng:

7.1 Tịch thu tiêu hủy đối với:

+ 19,308 gam và 0,069 gam Methamphetamine và 0,354 gam Ketamine;

+ 200ml chất lỏng trong suốt có Methamphetamine;

+ 01 chai nhựa hiệu Thạch Bích có nắp vặn màu vàng cao 13cm, đường kính 5,5cm, đường kính miệng chai 2,5cm, trên nắp đục 02 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa dạng lò xo dài 46cm và 01 ống thủy tinh trong suốt dài 19cm có 01 đầu thẳng dẫn xuống chai nhựa dài 9,5cm phần còn lại dẫn ra bên ngoài có 01 đầu cong hình chữ U, đầu cong này cố định một khối thủy tinh có đường kính 1,5cm, trên khối thủy tinh có một lỗ trống hình tròn đường kính 0,6cm.

+ 01 bật lửa màu xanh; 01 bật lửa tự chế có dán keo màu đen; 01 đèn led mini hiệu PARTY LIGHT; 01 dàn loa vi tính màu đen hiệu Sound Max 820; 01 hộp nhựa màu xanh; 01 hộp giấy màu xanh hiệu PQA; 01 cân điện tử màu trắng đỏ hiệu Manllor; 02 bật lửa hiệu Hoa Việt; 01 bật lửa hiệu 555;02 bật lửa màu tím không nhãn hiệu; 03 cây kéo bằng kim loại; 01 ống nhựa hình trụ; 01 ống thủy tinh trong suốt; 03 túi nilong trong suốt.

7.2. Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với:

+ 01 điện thoại đi động hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại đi động hiệu Sam Sung đa qua sử dụng.

+ Buộc bị cáo phải giao nộp lại số tiền 8.100.000 đồng, gồm tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy là 1.400.000 đồng; tiền bị cáo bỏ ra để mua trái phép chất ma túy về bán là 6.700.000 đồng (đã tạm giữ của bị cáo 500.000 đồng, số tiền bị cáo còn phải giao nộp là 7.600.000đồng).

7.3. Tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án:

01 thẻ nhớ màu trắng xám bạc có dòng chữ Sandisk Ultra 125GB micro SD và 01 đĩa DVD đã được niêm phong.

7.4. Trả lại cho bà Huỳnh Thị T mẹ bị cáo số tiền 700.000 đồng (đã thu giữ lúc bắt quả tang bị cáo).

Vật chứng vụ án có tình trạng, đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đối với đối tượng tên H, C, Hi đã bán ma túy cho Nguyễn Văn N, quá trình điều tra chưa xác định được họ tên, địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Thị Ý N có hành vi tàng trữ trái phép 0,416 gam Ketamine để sử dụng, qua xác minh Nhi chưa có tiền án, tiền sự về hành vi liên quan đến ma túy nên hành vi không cấu thành tội phạm. Công an thị xã Đông Hòa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N số tiền 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Văn C, Phan Hoàng Khánh R, Trương Nhật T, Lê Thanh T, Nguyễn Quan Tr, Lê Văn B, Nguyễn Thị Ý N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thị xã Đông Hòa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi đối tượng 750.000 đồng là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N (tên gọi khác Chó N) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Áp dụng Điểm b, c, i, q Khoản 2 Điều 251 tội Mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng Điểm b, h Khoản 2 Điều 255 tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Điểm s Khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự; Phạt bị cáo Nguyễn Văn N (tên gọi khác Chó N) 09 (chín) năm tù tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 16 (Mười sáu năm) 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam 31/8/2021.

- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 và khoản 2, 3 Điều 35 Bộ luật hình sự; Phạt bị cáo Nguyễn Văn N 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy đối với:

+ 19,308 gam Methamphetamine còn lại sau giám định (thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Năng).

+ 0,354 gam Ketamine còn lại sau giám định (thu giữ của Nguyễn Thị Ý N).

+ 0,069 gam Methamphetamine còn lại sau giám định (ma túy bên trong bình cầu ống thủy tinh).

+ 200ml chất lỏng trong suốt có Methamphetamine còn lại sau giám định.

+ 01 chai nhựa hiệu Thạch Bích có nắp vặn màu vàng cao 13cm, đường kính 5,5cm, đường kính miệng chai 2,5cm, trên nắp đục 02 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa dạng lò xo dài 46cm và 01 ống thủy tinh trong suốt dài 19cm có 01 đầu thẳng dẫn xuống chai nhựa dài 9,5cm phần còn lại dẫn ra bên ngoài có 01 đầu cong hình chữ U, đầu cong này cố định một khối thủy tinh có đường kính 1,5cm, trên khối thủy tinh có một lỗ trống hình tròn đường kính 0,6cm.

+ 01 bật lửa màu xanh nhãn hiệu 555 Vip Hoa Việt kích thước (7,6 x 2,2 x 01)cm.

+ 01 bật lửa tự chế có dán keo màu đen kích thước (4,2 x 02)cm có hình bầu dục, đầu trên có 01 ống nhựa và kim loại để dẫn khí ga đi ra cao 2,3cm đường kính 0,3cm.

+ 01 đèn led mini hiệu PARTY LIGHT màu đen kích thước (06 x 09 x 7,3)cm.

+ 01 dàn loa vi tính màu đen hiệu Sound Max 820, cấu tạo gồm 02 loa màu đen cùng kích thước (09 x 8,5 x 14)cm, đầu điều khiển kích thước (26 x 21 x 12,5)cm.

+ 01 hộp nhựa màu xanh kích thước (18 x 12 x 1,4)cm.

+ 01 hộp giấy màu xanh hiệu PQA Ngọc Tố Nữ kích thước (21 x 15 x 07)cm.

+ 01 cân điện tử màu trắng đỏ hiệu Manllor kích thước (09 x 5,5 x 02)cm.

+ 02 bật lửa hiệu Hoa Việt màu trắng có kích thước (08 x 2,5 x01)cm.

+ 01 bật lửa hiệu 555 màu trắng kích thước (7,6 x 2,2 x 01)cm.

+ 01 bật lửa màu tím không nhãn hiệu kích thước (3,7 x 02 x 19)cm.

+ 01 bật lửa màu tím không nhãn hiệu kích thước (7,2 x 03 x 1,3)cm.

+ 03 cây kéo bằng kim loại, trong đó có 01 cái cán bằng nhựa màu đen, kích thước lần lượt là (16 x 6,5)cm, (10,5 x 4,5)cm, (14 x 07)cm.

+ 01 ống nhựa hình trụ bên ngoài quấn băng keo đen dài 15,5cm, đường kính 1,1cm có một đầu cắt nhọn, một đầu bịt cố định bằng nắp nhựa màu vàng.

+ 01 ống thủy tinh trong suốt hình trụ dài 13cm đường kính 0,6cm có một đầu cố định và một đầu được nối với ống nhựa dài 04cm đường kính 0,7cm.

+ 03 túi nilong trong suốt có hai đầu được hàn kín, hai đầu hở có kích thước lần lượt là (1,5 x 2,5)cm, (5,3 x 2,5)cm, (04 x 2,5)cm.

* Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với:

+ 01 điện thoại đi động hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, loại bàn phím, số sêri 1: 356933114465026, số sêri 2: 35693311466021 bên trong có gắn thẻ sim số 0355039409 và thẻ sim số 0788281997 và 01 điện thoại đi động hiệu Sam Sung đã qua sử dụng, số IMEL 351389/22/78846519, bên trong không có gắn thẻ sim của bị cáo Nguyễn Văn N vì sử dụng vào mục đích phạm tội.

+ Buộc bị cáo phải giao nộp lại số tiền 8.100.000 đồng, gồm tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy là 1.400.000 đồng; tiền bị cáo bỏ ra để mua trái phép chất ma túy về bán là 6.700.000 đồng (đã tạm giữ của bị cáo 500.000 đồng, số tiền bị cáo còn phải giao nộp là 7.600.000đồng).

* Tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án:

01 thẻ nhớ màu trắng xám bạc có dòng chữ Sandisk Ultra 125GB micro SD và 01 đĩa DVD đã được niêm phong.

* Trả lại cho bà Huỳnh Thị T (mẹ bị cáo) số tiền 700.000 đồng (tạm giữ lúc bắt quả tang) vì là tiền bà Tài đưa cho bị cáo để mua vật dụng sửa chữa nhà, không phải tiền bị cáo có được từ việc bán trái phép chất ma túy. Nhưng đang tạm giữ của bị cáo số tiền 1.200.000 đồng do Công an thị xã Đông Hòa đã nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa theo biên lai thu tiền số 0000789 ngày 26 tháng 01 năm 2022; nên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa hoàn trả lại cho bà Huỳnh Thị T số tiền 700.000đồng (Bảy trăm nghìn đồng).

Vật chứng vụ án có tình trạng, đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ