- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ KHANH L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!! HUYỆN!AN!BIÊN! ! TỈNH!KIÊN!GIANG! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2022/HS-ST Ngày 11-3-2022 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC"CỘNG"HÒA"XÃ"HỘI"CHỦ"NGHĨA"VIỆT"NAM"
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!AN!BIÊN,!TỈNH!KIÊN!GIANG!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chọn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thu Trang và ông Hà Minh Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Khánh Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự thụ lý số: 06/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê!Khánh!L, sinh năm 1997 tại huyện A, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp L, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm 1972 bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977; vợ tên Thị C, sinh năm 1995 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện An Biên từ ngày 12/11/2021 cho đến nay. Có mặt
- Người bị hại: Trần Văn Thạch, sinh năm 1976.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Phạm Lệ C, sinh năm 1980.
Cùng trú tại: Ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Chí L, sinh năm 2002.
- Người làm chứng: Thị C, sinh năm 1995.
Cùng trú tại: Ấp L, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Bị hại, đại diện bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người làm chứng
đều vắng mặt)
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Khánh L làm nghề mua bán dừa dạo trên địa bàn huyện An Biên, trên đường đi bán phát hiện vỏ máy Composite dài 10.45m, có đặt máy ISUZU4 của ông Trần Văn T đang đậu dưới K thuộc ấp R, xã T không khóa, không người trông coi nên L nảy sinh ý định lấy trộm.
Khoảng 21 giờ ngày 05/11/2021, Khánh L bơi vỏ máy của Lê Chí L (em ruột Khánh L) đến khu vực ngang nhà ông Thạch chờ cơ hội lấy trộm. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi thấy gia đình ông Thạch đã ngủ, Khánh L bơi vỏ máy qua tháo dây chiếc vỏ máy của ông T rồi thả trôi theo K về hướng cống X, vỏ trôi được khoảng 500m thì Khánh L chạy vỏ máy xăng đến cột cặp bên rồi chạy về nhà thuộc ấp L, xã H. Ngày 06/11/2021, Khánh L điều khiển vỏ máy vừa trộm được chở chị Thị C đến nhà người quen chơi ở S, huyện G, đến ngày 09/11/2021 thì về.
Sau khi phát hiện vỏ máy bị mất, ông T trình báo Công an, đến ngày 11/11/2021 thì lực lượng Công an phát hiện vỏ máy của ông T đang đậu dưới bến sông trước nhà của Lê Khánh L nên tiến hành mời làm việc, xác định là tài sản bị mất trộm nên tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện An Biên kết luận: 01 (Một) vỏ máy Composite màu trắng xanh dài 10,45m, 01 (Một) máy xe nhãn hiệu ISUZU 4, bộ phận láp bằng kẽm, chân vịt 03 cánh dài 2,4cm bằng thau, 01 (Một) bình ắc quy 100Ampe trị giá 49.050.000đ!(Bốn mươi chín triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Về vật chứng của vụ án gồm: 01 (Một) vỏ máy Composite màu trắng xanh dài 10,45m, 01 (Một) máy xe nhãn hiệu ISUZU 4, bộ phận láp bằng kẽm, chân vịt 03 cánh dài 2,4cm bằng thau, 01 (Một) bình ắc quy 100Ampe.
Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKSHAB ngày 18/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Lê Khánh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh, tuyên bố bị cáo Lê Khánh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Lê Khánh L thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam và tuyên trả tự do cho bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên miễn xét.
Bị cáo Lê Khánh L không có ý kiến tranh luận gì.
Người bị hại, đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có ý kiến.
Bị cáo Lê Khánh L nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối hận, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về lo làm ăn, nuôi vợ con và gia đình.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa đã làm rõ:
Do muốn có tài sản sử dụng nên khoảng 23 giờ ngày 5/11/2021, Lê Khánh L dùng vỏ máy đi đến nhà của Trần Văn T thuộc ấp R, xã T, huyện A lấy trộm 01 (Một) vỏ máy Composite màu trắng xanh dài 10,45m; 01 (Một) máy xe nhãn hiệu ISUZU 4, bộ phận láp bằng kẽm, chân vịt 03 cánh dài 2,4cm bằng thau và 01 (Một) bình ắc quy 100Ampe trị giá theo Kết luận định giá 49.050.000đ!(Bốn mươi chín triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo Lê Khánh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo nhận thức được việc lợi dụng sự sơ hở của bị hại lén lút lấy trộm tài sản của họ là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì lười lao động chân chính, muốn nhanh chóng có tài sản sử dụng mà bị cáo đã bất chấp mọi hậu quả pháp lý. Hành vi của bị cáo không những đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến sở hữu tài sản của chủ sở hữu hợp pháp mà còn làm mất an ninh trật tự xã hội và gây hoang mang tư tưởng của người dân địa phương nên cần xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả bị cáo đã gây ra để bị cáo có đủ thời gian cải tạo, học tập trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm phòng ngừa chung cho những người khác có ý định tương tự như bị cáo.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra biết ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bọ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, xử phạt bị cáo hình phạt tù bằng thời hạn đã tạm giam và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa cũng đủ răn đe đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên miễn xét.
[5] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Khánh L phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
!
Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Lê Khánh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về!hình!phạt:! !
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Khánh L 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giam ngày 12/11/2021 đến ngày 11/3/2022. Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
2. Về!án!phí:! !
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Khánh L nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
3.!Quyền!kháng!cáo:!
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - THA Dân sự, Hình sự; - NTG; CA huyện An Biên; - Người TGTT; - Lưu hồ sơ, văn phòng (Dương). !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Trần!Thị!Chọn! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊNTÒA! ! ! ! ! ! ! ! ! |