vanban.org

Bản án 11/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lai Châu Tuyên án 22/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Vàng A Nh, Lý A V, Giàng A S là hợp lệ , chấp nhâ ̣n mô ̣t phần về nô ̣i dung kháng cáo . Sử a bản án sơ thẩm số 43/2022/HS-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu:

Tuyên bố các bị cáo Vàng A Nh, Lý A V và Giàng A S phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Vàng A Nh: 3 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ và tạm giam từ ngày 23/12/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vàng a Nhà - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Vàng A Nh, Lý A V, Giàng A S là hợp lệ , chấp nhâ ̣n mô ̣t phần về nô ̣i dung kháng cáo . Sử a bản án sơ thẩm số 43/2022/HS-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/HS-PT
Ngày: 22-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Bính;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Hòa; Ông Đỗ Mạnh Trang;

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thục Trinh, Thư ký TAND tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa:

Ông Lê Văn Khánh- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số:15/2022/TLPT-HS ngày 22 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo Vàng A Nhà và các bị cáo khác, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2022/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Vàng A Nh; Tên gọi khác: không; Ngày, tháng, năm sinh: 08/08/2000 tại huyện S H, tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT: bản P Ng, xã H L, huyện Ph Th, tỉnh Lai Châu;Nơi cư trú: bản N T M 1, xã P T, huyện S H, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mông;Giới tính: nam; Tôn giáo: Đạo tin lành; Quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; Con ông Vàng A L và con bà Giàng Thị K; Vợ: Thào Thị P, bị cáo có 01 con sinh năm 2017; Tiền án: không; Tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ và tạm giam từ ngày 23/12/2021; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện S H cho đến nay. Có mặt.

2. Lý A V; Tên gọi khác: không; Ngày, tháng, năm sinh: 31/12/1995 tại huyện S H, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản L Th, xã P T, huyện S H, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: nam; Tôn giáo: Đạo tin lành; Quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; Con ông Lý A S và con bà Vàng Thị C; Vợ: Vàng Thị D, bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án: không; Tiền sự: không; bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 14/2/2022 đến ngày 23/2/2022 bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P T, huyện S H, tỉnh Lai Châu cho đến nay. Có mặt.

3. Giàng A S; Tên gọi khác: không; Ngày, tháng, năm sinh: 03/02/1994 tại huyện S H, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản L Th, xã P T, huyện S H, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: nam; Tôn giáo: Đạo tin lành; Quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; Con ông Giàng A D và con bà Vàng Thị M; Vợ: Lý Thị D, bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án: không; Tiền sự: không; bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 14/2/2022 đến ngày 23/2/2022 bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P T, huyện S H, tỉnh Lai Châu cho đến nay. Có mặt.

- Người phiên dịch: Ông Giàng A Hà, sinh năm 1999.Có mặt.

Nơi cư trú: Tổ 12, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

- Ngườ i bào chữa cho các bi ̣ cáo: Ông Nguyễn Công Hưở ng, trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nướ c, tỉnh Lai Châu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 12/2021, Vàng A Nh đang ở nhà thì có người đàn ông giới thiệu tên Ch, nhà ở thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đến nhà của Nh hỏi mua chim và pháo nổ, Nh đồng ý và hẹn tìm pháo cho Ch. Sau đó Nhà gọi điện thoại cho Lý A V nhờ Vảng tìm chỗ mua pháo, V đồng ý, lúc này Giàng A S đang ở cùng V nên cũng biết việc Nh nhờ V tìm mua pháo.

Khoảng 1 tuần sau, V và S cùng nhau đi bán ớt tại chợ Cửa Cải, xã Huổi Luông, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tại đây V và S gặp người đàn ông dân tộc Mông, người Trung Quốc (không biết rõ họ tên địa chỉ) V và S hỏi người đàn ông đó chỗ mua pháo, người đó trả lời có mua được nhưng đắt. Khi tìm được nơi mua pháo, V gọi điện thoại thông báo cho Nh biết. Đến ngày 20/12/2021 V nhận được điện thoại của Nh, hẹn V đến gặp Ch để lấy tiền mua pháo, V đồng ý cùng S điều khiển xe mô tô đến gặp Ch. Khi gặp nhau Ch đưa cho V và S 7000NDT và hứa sẽ trả thêm 200NDT/1 thùng pháo. V và S đồng ý, hẹn khi nào mua được pháo sẽ thông báo sau.

Ngày 21/12/2021 V và S cùng nhau đi chợ Cửa Cải, xã Huổi Luông. Tại đây, S và V gặp người đàn ông Trung Quốc hỏi mua pháo hôm trước, qua trao đổi người đàn ông đó nói 7000NDT sẽ mua được 7 – 8 thùng pháo, V và S đồng ý và hẹn tối ngày 23/12/2021 sẽ đến chợ Cửa Cải để giao tiền và nhận pháo. Sau khi về đến nhà V gọi điện thoại cho Nh biết chiều ngày 23/12/2021 đến chợ Cửa Cải xã Huổi Luông để mua pháo về bán cho Ch, Nh đồng ý.

Khoảng 16 giờ ngày 23/12/2021 V điều khiển xe mô tô BKS 25B1 – 720.56, S điều khiển xe mô tô BKS 25B1 – 464.03 và Nh điều khiển xe mô tô BKS 25B1 – 411.78 đi đến khu vực chợ Cửa Cải, xã Huổi Luông, huyện Phong Thổ. Khoảng 19 giờ cùng ngày, V và S đến trước gặp người đàn ông Trung Quốc, V đưa cho người đó 7000NDT, người đó đưa lại cho V và S 03 bao tải chứa 08 thùng pháo. V và S mang số pháo lên mép đường thì gặp Nh đi đến, tại đây V, Nhà và S cùng nhau thống nhất chia 08 hộp pháo trong 03 bao tải thành 06 bao tải và hẹn Ch đến khu vực bản Pa Tần 3, xã Pa Tần, huyện Sìn Hồ để nhận pháo, số tiền Ch trả thêm cho mỗi thùng pháo sẽ chia đều cho Nh, S và V.

Khoảng 22 giờ cùng ngày Nh, V và S vận chuyển 06 bao tải chứa các thùng pháo đến khu vực bản Pa Tần 3, xã Pa Tần và tập hợp các bao tải bên mép đường đợi Ch đến để giao hàng thì bị Công an tỉnh Lai Châu kiểm tra phát hiện bắt quả tang vào hồi 23 giờ 30 phút, ngày 23/12/2021, Nh bị bắt giữ cùng toàn bộ vật chứng và 03 chiếc xe mô tô còn V và S đã chạy thoát.

Ngày 14/2/2022 Lý A V, Giàng A S đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản Kết luận giám định số 59/GĐ-KTHS ngày 24/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “Vật chứng nghi pháo nổ, pháo hoa thu giữ của Vàng A Nh gửi đến giám định có tổng khối lượng là 54,02 kg (Năm mươi tư phẩy không hai kilôgam)”

Tại bản Kết luận giám định số 71/GĐ-KTHS ngày 29/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lai Châu kết luận:

- Các mẫu vật (có ký hiệu Mẫu 1, Mẫu 2, Mẫu 3, Mẫu 5, Mẫu 6, Mẫu 7, Mẫu 8) gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ)

- Mẫu vật (có ký hiệu Mẫu 4) gửi giám định là pháo nổ.

Tại bản án sơ thẩm số 43/2022/HS-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã quyết định: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Vàng A Nh, Lý A V và Giàng A S phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Vàng A Nh: 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ và tạm giam 23/12/2021; Xử phạt bị cáo Lý A V: 05 (năm) năm tù, được khấu trừ thời hạn tạm giữ 09 (chín) ngày, bị cáo còn phải chấp hành 04 (bốn) năm 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt ) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án; Xử phạt bị cáo Giàng A S: 05 (năm) năm tù, được khấu trừ thời hạn tạm giữ 09 (chín) ngày, bị cáo còn phải chấp hành 04 (bốn) năm 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt ) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 27/7/2022, các bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung: Bị cáo Vàng A Nh xin giảm nhẹ hình phạt với mức án thấp nhất; các bị cáo Lý A V, Giàng A S xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu trình bày quan điểm: Ngườ i kháng cáo, thủ tục kháng cáo, thời hạn kháng cáo đảm bảo theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS, Chấp nhâ ̣n đơn kháng cáo của các bi ̣ cáo là hợp lê ̣, không chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 43/2022/HS-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Ngườ i bào chữa cho các bi ̣ cáo trinh bày: bản thân các bị cáo đều là dân tộc

̀

thiểu số nên nhâ ̣n thứ c về pháp luâ ̣t cũng như xa hô ̣̃ i còn ha ̣n chế, các bị cáo do bị dụ dỗ nên nhất thời phạm tội, các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo Va và bị cáo S sau khi pha ̣m tô ̣i đa ra đẫ

̀u thu, các bị cáo đã giúp cơ quan điềú tra phát hiê ̣n tô ̣i pha ̣m, các bị cáo có02 tình tiết giảm nhẹ được quy định ở khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng Điều 54 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự, cho các bi ̣ cáo được hưở ng mứ c án dướ i khung hinh pha ̣t . Hô ̣i

̀

̀ đồng xét xử xét thấy có căn cứ cần chấp nhâ ̣.n

Tại lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào các tài liệu thu thập và thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo đều phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Ngày 23/12/2021, Vàng A Nh, Lý A V và Giàng A S cùng nhau vận chuyển 54,02 kilôgam pháo nổ (pháo hoa nổ ) đến địa phận bản Pa Tần 3, xã Pa Tần, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để bán kiếm lời thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng vào hồi 23 giờ 30 phút cùng ngày. Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước đối với các loại pháo nổ, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết tội danh và áp dụng các điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo phạm tội “Buôn bán hàng cấm” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vàng A Nh, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Lý A V và Giàng A S, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đúng tính chất, mức độ, điều kiện, hành vi phạm tội của các bị cáo và đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo;

Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm : Tại cấp phúc thẩm các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ và không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử áp du ̣ng Điều 331, Điều 332, Điều 333, Điều 355, Điều 356 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự tuyên

̀ chấp nhâ ̣n đơn kháng cáo của các bi ̣ cáo là hợp lê ̣ nhưng không chấp nhâ ̣n về nô ̣i dung, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuy nhiên căn cứ tinh chất , mứ c đô ̣, hành vi phạm tội cũng như tính nguy

́ hiểm cho xa hô ̣̃ i của các bị cáo, Hô ̣i đồng xét xử thấy rằng về mứ c hinh phạt cấp

̀ sơ thẩm áp du ̣ng đối vớ i các bi ̣ cáo là quá nghiêm khắc, do vâ ̣y cần áp du ̣ng điều 54 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự giảm nhe ̣ mô ̣t phần hinh pha ̣t cho phù hợp vớ i tinh chất , mứ c

̀

̀

́ đô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i của các bi ̣ cáo và thể hiê ̣n tính khoan hồng, nhân đa ̣o của pháp luật nhà nước ta

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: các bị cáo Vàng A Nh, Lý A V và Giàng A S không phải chi ̣u án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Vàng A Nh, Lý A V, Giàng A S là hợp lệ , chấp nhâ ̣n mô ̣t phần về nô ̣i dung kháng cáo . Sử a bản án sơ thẩm số 43/2022/HS-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu:

Tuyên bố các bị cáo Vàng A Nh, Lý A V và Giàng A S phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Vàng A Nh: 3 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ và tạm giam từ ngày 23/12/2021.

- Xử phạt bị cáo Lý A V: 03 (năm) năm tù; được khấu trừ thời hạn tạm giữ 09 (chín) ngày, bị cáo còn phải chấp hành 02 (hai) năm 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

- Xử phạt bị cáo Giàng A S: 03 (ba) năm tù; được khấu trừ thời hạn tạm giữ 09 (chín) ngày, bị cáo còn phải chấp hành 02 (hai) năm 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

2. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án 22/9/2022./.

Cỡ chữ