- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Luân Phạm tội Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Nguyễn Thị D và Nguyễn Văn Ng phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2021/HS-ST Ngày 22/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Xuân Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Thành và ông Nguyễn Đăng Dũng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 22/3/2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2021/TLST - HS, ngày 02/02/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 3 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn L, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn L và con bà Đỗ Thị S có vợ: Đặng Thị Nh có 02 con (con lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2020 đến ngày 09/12/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giam, áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo đang được tại ngoại tại địa phương (có mặt).
2. Nguyễn Thị D, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Ngọc N (đã chết) và con bà Hoàng Thị T (đã chết); Có chồng: Nguyễn Văn B (đã chết); có 04 con (con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/10/2020 đến ngày 15/10/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo đang được tại ngoại tại địa phương (có mặt).
3. Nguyễn Văn Ng, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và con bà Phạm Thị N có vợ: Nguyễn Thị T; có 02 con (con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1996); tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/10/2020 đến ngày 15/10/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo đang được tại ngoại tại địa phương (có mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh B.
- Anh Phạm Văn Q, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh B.
- Ông Phạm Văn C, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện G, thành phố H.
- Anh Nguyễn Đông H, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện V, tỉnh H.
- Anh Chu Văn Th, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu 3, xã Ng, huyện V, tỉnh V.
- Anh Nguyễn Viết H, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua công tác nắm tình hình trên địa bàn xã T, huyện T, tỉnh B được biết Nguyễn Văn L có biểu hiện mua bán số lô, số đề với một số đối tượng. Ngày 06/10/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành triệu tập L đến Công an huyện để làm rõ. Tại đây L đã đầu thú và khai nhận bản thân hiện đang làm nghề lái xe taxi. Vào khoảng tháng 7/2020, trong một lần lái xe chở khách đi khám bệnh tại Bệnh viện nhi Trung ương thuộc địa bàn thành phố Hà Nội, L có quen biết với một người đàn ông tên là Hùng, khoảng 40 tuổi, quê quán ở Hà Nội. Hùng nói với Luân, Hùng là chủ thu bảng cáp số lô, số đề và bảo Luân làm thư ký chuyển số lô, số đề cho Hùng để hưởng tiền chênh lệch. Luân đồng ý. Giữa Hùng và L thỏa thuận cách thức mua bán số lô, số đề như sau:
Đối với số lô L chuyển cho Hùng thì cứ 01 điểm lô sẽ có giá là 21.700 đồng (hai mươi mốt nghìn bảy trăm đồng); số đề hoặc số giải Nhất khi chuyển cho Hùng cứ 10.000 đồng (mười nghìn đồng) bán được cho người mua, L phải thanh toán cho Hùng số tiền tương ứng là 8.300 đồng (tám nghìn ba trăm đồng); số lô xiên khi chuyển cho Hùng cứ 10.000 đồng (mười nghìn đồng) bán được cho người mua, L phải thanh toán cho Hùng số tiền là 6.500 đồng (sáu nghìn năm trăm đồng). Hai bên thống nhất lấy kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày để làm căn cứ xác định số trúng thưởng hay không trúng thưởng. Cụ thể: Số lô trúng là hai số cuối của tất cả các giải mở thưởng; số đề trúng là hai số cuối của giải Đặc Biệt; số giải Nhất trúng là hai số cuối của giải Nhất; số lô xiên hai trúng thưởng là bộ hai số trong giải trúng số lô; số lô xiên ba trúng thưởng là bộ ba số trong giải trúng số lô. Nếu người chơi trúng thưởng một điểm lô sẽ được số tiền tương ứng là 80.000 đồng (tám mươi nghìn đồng), trúng thưởng 10.000 đồng (mười nghìn đồng) tiền số đề hay số giải Nhất sẽ được tương ứng số tiền là 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng), trúng thưởng 10.000 đồng (mười nghìn đồng) tiền số lô xiên hai sẽ được tương ứng số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), trúng thưởng 10.000 đồng (mười nghìn đồng) tiền số lô xiên ba sẽ được tương ứng số tiền là 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Khi số tiền thắng, thua từ 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) đến 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) hai bên sẽ gặp nhau và thanh toán trực tiếp với nhau bằng tiền mặt. Sau khi thỏa thuận với nhau như trên, Hùng cho L tài khoản mạng xã hội Zalo của Hùng có tên hiển thị là “T” và L cho Hùng tài khoản mạng xã hội Zalo của Luân có tên hiển thị “L Nguyên” để hai bên liên hệ trực tiếp với nhau, nhắn tin hoặc gọi điện trực tiếp qua mạng xã hội Zalo để chuyển số lô, số đề. Sau đó Luân xin số điện thoại của Hùng nhưng Hùng không cho mà bảo với Luân cứ liên hệ trực tiếp với Hùng qua mạng xã hội Zalo, bản thân Hùng cũng không nói cho Luân biết về thông tin địa chỉ cụ thể của Hùng.
Đến sáng ngày 06/10/2020, Luân liên hệ qua mạng xã hội Zalo nói với Hùng trong ngày 06/10/2020, L bán số lô, số đề cho mọi người và sẽ chuyển lại cho Hùng. Hùng đồng ý. Sau đó, L liên hệ với một số người quen biết và bảo với họ có nhu cầu mua số lô, số đề thì L sẽ bán cho với giá rẻ hơn ở chỗ khác. Đồng thời Luân đặt vấn đề với Nguyễn Văn Ng là chú ruột của L ở cùng thôn với Luân hiện đang làm công nhân tại công ty Dabaco. Luân bảo với Nga đi làm ở công ty xem có ai mua số lô, số đề thì bán cho họ sau đó chuyển lại cho L, L sẽ mua lại với giá rẻ hơn. L thỏa thuận cách thức chơi và số tiền mua, bán một số lô, số đề cho Nga và người chơi như sau:
Đối với thư ký chuyển số lô, số đề cho L, L mua lại một điểm lô với giá là 22.000 đồng (hai mươi hai nghìn đồng); số đề hay số giải Nhất L mua lại của thư ký cứ 10.000 đồng (mười nghìn đồng) thì thư ký chỉ phải thanh toán trả L số tiền tương ứng là 9.500 đồng (chín nghìn năm trăm đồng); số lô xiên L mua lại của thư ký cứ 10.000 đồng (mười nghìn đồng) thì thư ký chỉ phải thanh toán cho L số tiền là 8.000 đồng (tám nghìn đồng). Còn đối với người chơi mua trực tiếp một điểm lô Luân bán với giá là 22.000 đồng (hai mươi hai nghìn đồng); số đề hay số giải Nhất L bán cho người mua, họ mua bao nhiêu tiền thì phải thanh toán cho L đủ tiền, còn số lô xiên cứ 10.000 đồng (mười nghìn đồng) bán cho người mua thì họ chỉ phải cho L số tiền là 8.000 đồng (tám nghìn đồng). Căn cứ để xác định số trúng thưởng hay không trúng thưởng dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hồi 18 giờ 15 phút cùng ngày, giống như cách thức giữa L và Hùng đã thỏa thuận.
Cùng ngày 06/10/2020, sau khi bán số lô, số đề cho người mua và nhận số lô, số đề do thư ký chuyển cho, L đã chuyển lại cho Hùng. Sau đó, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật L đã đến Công an huyện Thuận Thành đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đồng thời tự giác giao nộp 01 điện thoại Iphone 11 ProMax lắp sim số 0972.686.299 bên trong có các nội dung tin nhắn mua bán số lô, số đề và tin nhắn chuyển số lô, số đề cho Hùng.
Hồi 21 giờ ngày 06/10/2020, Nguyễn Thị D đến Công an huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với Nguyễn Văn L.
Hồi 18 giờ ngày 07/10/2020, Nguyễn Văn Ng đến Công an huyện Thuận Thành đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề sau đó chuyển lại cho L. Đồng thời Ng tự giác giao nộp 01 điện thoại Sam Sung Duos, màu trắng Ng sử dụng vào việc đánh bạc.
Tại cơ quan CSĐT Công an huyện T, qua đấu tranh, xét hỏi đã làm rõ hành vi phạm tội của Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn Ng và Nguyễn Thị D như sau:
* Đối với Nguyễn Văn Luân:
L là thư ký chuyển bảng số lô, số đề cho Hùng. Ngày 06/10/2020, L sử dụng chiếc điện thoại Iphone 11 ProMax lắp sim số điện thoại 0972.686.299 và tài khoản mạng xã hội Zalo có tên “L Nguyên” được đăng ký bằng số điện thoại trên để bán số lô, số đề cho người mua và nhận số lô, số đề của thư ký chuyển cho. Sau khi bán được số lô, số đề cho người mua và nhận lại số lô, số đề của thư ký, L nhắn tin và gọi điện qua mạng xã hội Zalo có tên “L Nguyên” của L đến tài khoản Zalo của Hùng có tên là “T” để chuyển số lô, số đề cho Hùng và hưởng tiền chênh lệch. Cụ thể ngày 06/10/2020 L đã mua, bán số lô, số đề và nhận số lô, số đề do thư ký chuyển như sau:
Tại mục tin nhắn SMS trong máy điện thoại của L ngày 06/10/2020 có tin nhắn chuyển số lô, số đề từ số điện thoại 0379.261.763 lưu trong danh bạ điện thoại với tên “Chu Ng Thắm” là của Nguyễn Văn Ng chuyển cho Luân có nội dung “C ghi cháu đầu 4 đuôi 4 x 90”; “Lô 23. 32. 12. 21 x 25”; “Xiên 91 23 45 x 20 xiên 87 78 91 x 20 xiên 14 46 91 x 20 lô 23. 91 x 10 điểm”; “Đề 80 x 100 nhất 80 x 100 lô 08. 80 x 20”; “Đề 242. 33 x 10 nhất 43. 42. 59 x 10 lô 59. 08 x 10 điểm”; “anh cho em con lô 58 và 72 mỗi con 7 điểm”; “Đề đầu đít 5 x 10”. Như vậy Ng chuyển cho Luân 194 điểm lô với giá là 22.000 đồng một điểm bằng 4.268.000 đồng (bốn triệu, hai trăm tám mươi sáu nghìn đồng); chuyển số đề và số giải Nhất với số tiền là 2.260.000đ (hai triệu, hai trăm sáu mươi nghìn đồng) nhưng Ng chỉ phải thanh toán cho L số tiền là 2.147.000 đồng (hai triệu, một trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) và chuyển số lô xiên với số tiền là 60.000 đồng (sáu mươi nghìn đồng) nhưng Ng chỉ phải thanh toán cho L số tiền là 48.000 đồng (bốn mươi tám nghìn đồng). Tổng số tiền số lô, số đề Ng phải thanh toán cho L là 6.685.000 đồng (sáu triệu, sáu trăm tám mươi năm nghìn đồng), nhưng Nga chỉ phải thanh toán cho L số tiền là 6.463.000 đồng (sáu triệu, bốn trăm sáu ba nghìn đồng). Trong những số lô, số đề Ng chuyển cho L thì người chơi trúng thưởng số đề đít 5 là 10.000 đồng (mười nghìn đồng) với số tiền là 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Tổng số tiền Luân và Nga sử dụng để đánh bạc và trúng thưởng là 7.263.000 đồng (bảy triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn đồng).
Tại mục tin nhắn trong mạng xã hội Zalo ngày 06/10/2020 có tên hiển thị “L Nguyên” được L lập từ số điện thoại 0972.686.299. L sử dụng để bán số lô, số đề cho các tài khoản sau:
- Tin nhắn với tài khoản Zalo có trong danh bạ lưu “Thím D” và có tên Zalo là “Nguyễn D” được lập từ số điện thoại 0985.809.157 là của Nguyễn Thị D. Luân trực tiếp bán cho D các số lô, số đề “Lô 121. 171 x 5”; “Đề 090. 121. 191. 141. 22. 32. 242. 272. 282. 292. 040. 373. 454. 464. 474. 595. 676. 696. 77. 787. 797 x 10”; “Lô 77 x 150. 08 x 100”; “Lô 08 x 100đ, 02. 20. 80 x 50đ Xiên 56. 12 x 500N, 08. 02 x 500N, 80. 20 x 200N”; “Đề 494. 121. 191. 22. 272. 767. 171. 090 x 20, 121. 191. 22. 272. 77. 282 x 30, 19 x 100”; “Đề 191. 282. 090 x 30”. Như vậy L đã bán cho D 520 điểm lô với giá 22.000 đồng một điểm bằng 11.440.000 đồng (mười một triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn đồng); bán số đề với số tiền là 1.270.000 đồng (một triệu, hai trăm bảy mươi nghìn đồng) và bán số lô xiên với số tiền là 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng), nhưng D chỉ phải thanh toán cho L số tiền là 960.000 đổng (chín trăm, sáu mươi nghìn đồng). Tổng số tiền mua bán số lô, số đề D phải thanh toán cho L là 13.670.000 đồng (mười ba triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng), nhưng D chưa thanh toán cho L số tiền trên. Trong những số lô, số đề đã mua thì D trúng thưởng số lô 71 x 5 điểm bằng tổng số tiền là 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Số tiền trúng thưởng L chưa thanh toán trả D. Những số lô, số đề D nhắn tin mua của L đều được L nhắn tin lại là “Ok” tức là xác nhận đồng ý bán cho D những số lô, số đề trên. Tổng số tiền L và D sử dụng để đánh bạc và trúng thưởng là 14.070.000 đồng (mười bốn triệu, không trăm bảy mười nghìn đồng).
- Tin nhắn với tài khoản Zalo có trong danh bạ lưu “Tùng Quyên” và có tên Zalo là “Quoc Khanh” được lập từ số điện thoại 0984.527.040 là của Nguyễn Văn T. Luân bán cho Tùng các số lô, số đề “Lô 16 x 50đ, 61 x 100đ; Đề 16 x 500n”; “Đề 61 x 200n nhé”. Như vậy L đã bán cho Tùng 150 điểm lô với giá là 22.000 đồng một điểm bằng 3.300.000 đồng (ba triệu, ba trăm, nghìn đồng) và bán số đề với số tiền là 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng). Tổng số tiền mua số lô, số đề T phải thanh toán cho L là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), số tiền trên T chưa thanh toán cho L. Trong những số lô, số đề L bán cho T thì T không trúng thưởng số nào. Những tin nhắn T nhắn tin mua số lô, số đề của L đều được L nhắn tin lại là “Ok” tức là xác nhận đồng ý bán cho T những số lô, số đề trên. Tổng số tiền L và T sử dụng để đánh bạc là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
- Tin nhắn với tài khoản Zalo có tên “Phạm Quyền” được lập từ số điện thoại 0973.035.683 là của Phạm Văn Q. Luân bán cho Q các số lô, số đề “Lô 08. 80. 95 x 10; xiên (08. 95) x 100 ok”. Như vậy L bán cho quyền 30 điểm lô với giá 22.000 đồng một điểm bằng 660.000 đồng (Sáu trăm, sáu mươi nghìn đồng) và bán số lô xiên hai với số tiền là 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), nhưng Q chỉ phải thanh toán cho L số tiền là 80.000 đồng (tám mươi nghìn đồng). Tổng số tiền mua số lô, số lô xiên hai Q phải thanh toán cho L là 740.000 đồng (bảy trăm bốn mươi nghìn đồng), số tiền trên Q chưa thanh toán cho L. Trong những số lô, số lô xiên Luân bán cho Q thì Q không trúng thưởng số nào. Những số lô, số lô xiên Q nhắn tin mua đều được L nhắn tin lại là “Ok” tức là xác nhận đồng ý bán cho Q những số lô, số lô xiên trên. Tổng số tiền L và Q sử dụng để đánh bạc là 740.000 đồng (bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Tin nhắn với tài khoản Zalo có trong danh bạ lưu “Venus A Cong” và có tên Zalo là “Phạm Công” được lập từ số điện thoại 0974.820.065 là của Phạm Văn C. L bán cho C các số lô, số đề “Lô 080 x 50đ; đề 494. 99. 85 x 50n, 44. 58 x 100n”. Như vậy Luân đã bán cho C 100 điểm lô với giá 22.000 đồng một điểm bằng 2.200.000 đồng (hai triệu, hai trăm, nghìn đồng) và bán số đề với số tiền là 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Tổng số tiền mua số lô, số đề C phải thanh toán cho Luân là 2.600.000 đồng (hai triệu, sáu trăm nghìn đồng), số tiền mua số lô, số đề trên C chưa thanh toán cho L. Trong những số lô, số đề L bán cho C thì C không trúng thưởng số nào. Những số lô, số đề C nhắn tin mua đều được L nhắn tin lại là “Ok” tức là xác nhận đồng ý bán cho C những số lô, số đề trên. Tổng số tiền L và C sử dụng để đánh bạc là 2.600.000 đồng (hai triệu, sáu trăm nghìn đồng).
- Ngoài ra L còn bán trực tiếp cho một nam thanh niên không quen biết các số lô, số đề “lô 08. 64 x 50đ; 46. 80 x 25đ; 05. 50 x 10đ; đề 05. 50. 78. 86 x 10n; nhất 47 số gồm các số 22. 24. 42. 25. 52. 26. 62. 27. 72. 28. 82. 33. 34. 43. 35. 53. 36. 63. 37. 73. 38. 83. 44. 45. 54. 46. 64. 47. 74. 48. 84. 55. 56. 65. 57. 75. 58. 85. 66. 67. 76. 68. 86. 77. 78. 87. 88 x 100n. Tổng số lô L bán nam thanh niên là 170 điểm lô với giá 22.000 đồng một điểm bằng 3.740.000 đồng (ba triệu, bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) và bán số đề, số giải Nhất với số tiền là 4.740.000 đồng (bốn triệu, bảy trăm bốn mươi nghìn đồng). Tổng số tiền mua số lô, số đề nam thanh niên này phải thanh toán cho L là 8.480.000 đồng (tám triệu, bốn trăm tám mươi nghìn đồng), nam thanh niên đã trả cho L đủ số tiền này. Trong những số lô, số đề mua ở trên thì nam thanh niên này trúng thưởng số lô 50 x 10 điểm bằng 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) và trúng thưởng số giải Nhất 85 là 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) bằng 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). Tổng số tiền nam thanh niên trúng thưởng là 8.800.000 đồng (tám triệu, tám trăm nghìn đồng), số tiền trúng thưởng của nam thanh niên L chưa thanh toán. Tổng số tiền nam thanh niên mua bán số lô, số đề với L và trúng thưởng là 17.280.000 đồng (mười bảy triệu, hai trăm tám mươi nghìn đồng).
Như vậy tổng số tiền số lô, số đề Luân bán được cho người mua và nhận của thư ký chuyển cho trong ngày 06/10/2020 là 36.338.000 đồng (ba mươi sáu triệu, ba trăm ba mươi tám nghìn đồng), nhưng tổng số tiền người mua và thư ký chỉ phải thanh toán cho Luân theo thỏa thuận là 35.953.000 đồng (ba mươi năm triệu, chín trăm năm mươi ba nghìn đồng). Khi L chuyển lại cho Hùng số lô, số đề đã bán được cho người mua và thư ký chuyển cho thì L chỉ phải thanh toán cho Hùng số tiền là 33.919.900 đồng (ba mươi ba triệu, chín trăm mười chín nghìn chín trăm đồng), số tiền này L chưa thanh toán cho Hùng. Số tiền Luân được hưởng lợi từ việc chuyển lại số lô, số đề cho Hùng là 2.033.100 đồng (hai triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, một trăm đồng). Tổng số tiền người chơi trúng thưởng là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Số tiền người chơi trúng thưởng Hùng chưa thanh toán cho L để L trả cho người chơi. Những số lô, số đề Luân nhắn tin chuyển cho Hùng và đều được Hùng nhắn tin lại bằng các số 3,4,5… theo thứ tự từng tin nhắn, tức là xác nhận đồng ý nhận những số lô, số đề L chuyển cho. Tổng số tiền số lô, số đề L bán được cho người mua và nhận của thư ký sau đó chuyển lại cho Hùng và tiền trúng thưởng ngày 06/10/2020 là 45.953.000 đồng (bốn năm triệu, chín trăm năm ba nghìn đồng).
Chiếc điện thoại điện thoại Iphone 11 ProMax lắp sim số 0972.686.299 bên trong điện thoại có tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Luân Nguyên” được lập từ số điện thoại trên. L sử dụng để bán số lô, số đề cho người mua và chuyển số lô, số đề cho Hùng khi đến Công an huyện T đầu thú L đã tự giác giao nộp chiếc điện thoại trên. Quá trình làm việc với cơ quan điều tra L đã tự giác giao nộp số tiền được nam thanh niên không quen biết trả tiền mua số lô, số đề và số tiền được hưởng lợi từ việc bán số lô, số đề cho người mua sau đó chuyển lại cho Hùng.
* Đối với Nguyễn Văn Ng:
Bản thân Ng là thư ký chuyển số lô, số đề cho L. Ngày 06/10/2020, Nga dùng điện thoại SamSung Duos lắp sim số 0398.801.795 và 0379.261.763, (Nga sử dụng sim số 0379.261.763 đăng ký chính chủ tên Ng) nhắn tin qua mục tin nhắn SMS trong điện thoại bán số lô, số đề cho người mua. Sau khi bán được số lô, số đề cho người mua thì Nga sử dụng số điện thoại trên nhắn tin qua mục tin nhắn SMS đến số điện thoại 0972.686.299 của L để chuyển số lô, số đề đã bán được cho L. Nguyễn Văn Ng bán cho người mua 22.500 đồng một điểm lô, chuyển lại cho L là 22.000 đồng một điểm lô; số đề và số giải Nhất Ng bán cho người mua bao nhiêu tiền thì họ phải trả Ng bấy nhiêu tiền còn khi chuyển lại cho L cứ 10.000 đồng (mười nghìn đồng) thì Ng chỉ phải thanh toán cho L số tiền là 9.500 đồng (chín nghìn năm trăm đồng); số lô xiên Nga bán cho người mua bao nhiêu tiền thì họ phải trả Ng bấy nhiêu tiền còn khi chuyển lại cho L cứ 10.000 đồng (mười nghìn đồng) thì Ng chỉ phải thanh toán cho L số tiền là 8.000 đồng (tám nghìn đồng). Ngày 06/10/2020, Ng đã bán số lô, số đề cho các đối tượng sau:
- Nguyễn Đông H sử dụng điện thoại Vivo màu đen lắp sim số 0962.630.684 nhắn tin SMS tới số điện thoại 0379.261.763 của Ng để mua các số đề gồm: 10 số đầu 4, 10 số đít 4 mỗi số là 80.000 đồng (tám mươi nghìn đồng), thành tiền là 1.600.000 đồng (một triệu, sáu trăm nghìn đồng). Số tiền bán số đề cho H, Ng chưa được H thanh toán; trong những số đề đã mua thì H không trúng thưởng số đề nào. Tổng số tiền H với Ng dùng để đánh bạc là 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng). Khi chuyển lại cho L thì Ng chỉ phải thanh toán số tiền là 1.520.000 đồng (một triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng). Số tiền Ng hưởng lợi là 80.000 đồng (tám mươi nghìn đồng).
- Chu Văn Th dùng điện thoại IphoneX màu trắng bên trong có lắp sim số 0964.442.368 nhắn tin qua mục tin nhắn SMS đến số điện thoại 0379.261.763 của Ng để mua các số lô 23. 32. 12. 21 mỗi số 20 điểm, tương ứng với 80 điểm lô, thành tiền là 1.800.000 đồng (một triệu, tám trăm nghìn đồng). Số tiền bán số lô cho Th, Ng chưa được Thắng thanh toán, trong những số lô Th mua thì Th không trúng thưởng số nào. Khi chuyển lại cho L thì Ng chỉ phải thanh toán số tiền là 1.760.000 đồng (một triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). Số tiền Ng hưởng lợi là 40.000 đồng (bốn mươi nghìn đồng).
- Nguyễn Viết H dùng điện thoại Nokia 105 lắp sim số 0368.540.466 nhắn tin qua mục tin nhắn SMS đến số điện thoại 0379.261.763 của Ng để mua các số lô xiên (91. 23. 45); (87. 78. 91); (14. 46. 19) mỗi số 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng); số lô 23. 91 mỗi số là 10 điểm; số lô 58. 72 mỗi số 07 điểm. Tổng số tiền số lô, số lô xiên H mua của Ng là 825.000 đồng (tám trăm hai mươi năm nghìn đồng) gồm: Tiền bán 34 điểm lô giá 22.500 đồng một điểm bằng 765.000 đồng (bảy trăm, sáu mươi năm nghìn đồng) và tiền bán số lô xiên là 60.000 đồng (sáu mươi nghìn đồng). Số tiền bán số lô, số lô xiên cho H, Ng chưa được H thanh toán. Trong những số lô, số lô xiên H mua thì H không trúng thưởng số nào. Khi chuyển lại cho L thì Ng chỉ phải thanh toán số tiền là 796.000 đồng (bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng, số tiền Ng được hưởng lợi là 29.000 đồng (hai mươi chín nghìn đồng).
- Một nam thanh niên không quen biết làm cùng Công ty Dabaco với Ng trực tiếp mua của Ng các số lô, số đề: “Lô 23. 32. 12. 21” mỗi số 05 điểm; “Đề 80 x 100 nhất 80 x 100 lô 08. 80 x 20”; “Đề 242. 33 x 10 nhất 43. 42. 59 x 10, lô 59. 08 x 10 điểm”; “Đề đầu, đít 5 x 10”. Tổng số tiền số lô, số đề Ng bán cho nam thanh niên không biết làm cùng công ty là 2.460.000 đồng (hai triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) gồm: Tiền bán 80 điểm lô với giá là 22.500 đồng một điểm bằng 1.800.000 đồng (một triệu, tám trăm nghìn đồng); tiền bán số đề và số giải Nhất là 660.000 đồng (sáu trăm, sáu mươi nghìn đồng), số tiền bán số lô, số đề trên Ng đã được nam thanh niên thanh toán. Trong những số lô, số đề nam thanh niên mua của Ng thì trúng thưởng số đề đít 5 là 10.000 đồng (mười nghìn đồng) bằng 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Như vậy tổng số tiền nam thanh niên mua bán số lô, số đề với Nga là 2.460.000 đồng (hai triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn đồng). Số tiền trúng thưởng của nam thanh niên L chưa trả cho Ng để Ng thanh toán trả người mua. Khi chuyển lại cho L số tiền bán số lô, số đề trên thì Ng chỉ phải thanh toán số tiền là 2.387.000 đồng (hai triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn đồng), số tiền Ng được hưởng lợi là 73.000 đồng (bảy mươi ba nghìn đồng).
Tổng số tiền số lô, số đề Ng bán được cho người mua là 6.685.000 đồng (sáu triệu, sáu trăm tám mươi năm nghìn đồng). Khi chuyển cho L thì Ng chỉ phải thanh toán số tiền là 6.463.000 đồng (sáu triệu, bốn trăm sáu mươi ba nghìn đồng). Số tiền người chơi trúng thưởng là 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Số tiền bán số lô, số đề Ng chưa thanh toán cho L. Những số lô, số đề Ng nhắn tin chuyển cho Luân đều được L nhắn tin lại là “Ok” tức là xác nhận đồng ý nhận những số lô, số đề Ng chuyển. Tổng số tiền Ng được hưởng lợi từ việc bán số lô, số đề cho người mua sau đó chuyển lại cho L là 222.000 đồng (hai trăm hai mươi hai nghìn đồng).
Chiếc điện thoại điện thoại SamSung Duos lắp sim số 0398.801.795 và 0379.261.763, Nga sử dụng sim số 0379.261.763 đăng ký chính chủ tên Ng. Sau đó Nga sử dụng để bán số lô, số đề cho người mua và chuyển số lô, số đề cho L. Khi đến Công an huyện T đầu thú Ng đã tự giác giao nộp chiếc điện thoại trên cùng với số tiền 2.682.000 đồng (hai triệu, sáu trăm, tám mươi hai nghìn đồng); trong đó có: 2.460.000 đồng là tiền mua số lô, số đề của nam thanh niên trả cho Nga và 222.000 đồng là tiền Nga được hưởng lợi từ việc chuyển số lô, số đề cho Luân.
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Thành các đối tượng gồm:
Nguyễn Văn T, Phạm Văn C, Phạm Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi mua số lô, số đề với Nguyễn Văn L trong ngày 06/10/2020. Đồng thời T, Q và C đã giao nộp toàn bộ số tiền dùng để mua số lô, số đề với Nguyễn Văn L cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T.
Chu Văn T, Nguyễn Đông H, Nguyễn Viết H, đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán số lô, số đề với Nguyễn Văn Ng trong ngày 06/10/2020. Đồng thời Th, H và H đã giao nộp toàn bộ số tiền sử dụng để mua số lô, số đề với Nguyễn Văn Ng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T.
Ngày 07/12/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Lệnh thu giữ thư tín, điện tín số 20 gửi Tập đoàn công nghiệp viễn thông quân đội đối với các số thuê bao: 0985.809.157 và 0379.261.763.
Ngày 20/12/2020, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội có công văn số 06 phúc đáp số thuê bao 0985.809.157 có thông tin chủ thuê bao là Nguyễn Thị D, sinh ngày 16/02/1970 ở xã T, huyện T, tỉnh B; số thuê bao 0379.261.763 có thông tin chủ thuê bao là Nguyễn Văn Ng, sinh ngày 01/03/1965 ở xã T, huyện T, tỉnh B.
* Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 điện thoại điện thoại Iphone X, màu đen lắp sim số 0985.809.157 của D; 01 điện thoại Iphone 6 lắp sim số 0984.527.040 của T; 01 điện thoại Oppo lắp sim số 0973.035.683 của Q; 01 điện thoại Sam Sung A50 lắp sim số 0974.820.065 của C; 01 điện thoại Iphone X màu trắng lắp sim số 0964.442.368 của Th; 01 điện thoại Vivo màu đen lắp sim số 0962.630.684 của Hiệp và 01 điện thoại Nokia 105 lắp sim số 0368.540.466 của H. Quá trình điều tra xác định D, T, Q, C, Th, H và H đã làm mất những chiếc điện thoại nêu trên nhưng không nhớ cụ thể mất ở vị trí nào. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra thông báo truy tìm những chiếc điện thoại trên nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả.
Tại bản cáo trạng số: 09/CT - VKS - TT, ngày 30/01/2021 của VKSND huyện T đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị D và Nguyễn Văn Ng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà đã phân tích động cơ, mục đích, nhân thân, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã giữ nguyên nội dung như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Nguyễn Thị D và Nguyễn Văn Ng phạm tội “Đánh bạc”.
*Hình phạt chính:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt:
- Nguyễn Văn L từ 16 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 tháng đến 36 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt:
- Nguyễn Thị D từ 10 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 tháng đến 24 tháng.
- Nguyễn Văn Ng từ 07 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng đến 18 tháng.
*Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 322 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Văn L số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng; áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Thị Dung và Nguyễn Văn Ng mỗi bị cáo số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung công quỹ.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại Iphone 11 ProMax lắp sim số 0972.686.299 và 18.480.000 đồng do bị cáo L giao nộp; 01 điện thoại SamSung Dous lắp sim số 0379.261.763 và 2.682.000 đồng do bị cáo Ng giao nộp; 13.670.000 đồng do bị cáo D giao nộp; 4.000.000 đồng do T giao nộp; 2.600.000 đồng do C giao nộp; 740.000 đồng do Q giao nộp; 1.800.000 đồng do Th giao nộp; 1.600.000 đồng do H giao nộp và 825.000 đồng do H giao nộp. Trả lại bị cáo L số tiền còn lại là 34.000 đồng, nhưng giữ lại để đảm thi hành án.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nhất trí với bản luận tội của VKS và không có ý kiến gì.
Các bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay mặc dù người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn T, anh Phạm Văn Q, ông Phạm Văn C, anh Nguyễn Đông H, anh Chu Văn T, anh Nguyễn Viết H vắng mặt. Nhưng anh T, anh Q, ông Công, anh H, anh Th và anh H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng gì đến nội dung vụ án nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T, anh Q, ông C, anh H, anh Th và anh H là phù hợp quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị D và Nguyễn Văn Ng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 06/10/2020 lợi dụng kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hằng ngày Nguyễn Văn L đã có hành vi mua bán số lô, số đề và nhận chuyển bảng số lô, sô đề của thư ký với tổng số tiền là 45.953.000 đồng (bốn mươi năm triệu, chín trăm năm mươi ba nghìn đồng). Sau đó Luân chuyển lại cho Hùng ở Hà Nội cụ thể:
- Mua bán số lô, số đề cho Nguyễn Thị D số tiền là 13.670.000 đồng (mười ba triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn đồng) và tiền D trúng thưởng là 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Tổng số tiền Nguyễn Thị D sử dụng để đánh bạc với Nguyễn Văn L và trúng thưởng ngày 06/10/2020 là 14.070.000 đồng (mười bốn triệu, không trăm bảy mươi nghìn đồng).
- Mua bán số lô, số đề cho Phạm Văn C số tiền là 2.600.000 đồng (hai triệu, sáu tră m nghìn đồng); Nguyễn Văn T số tiền là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) và Phạm Văn Q số tiền là 740.000 đồng (bảy trăm, bốn mươi nghìn đồng).
- Mua bán trực tiếp số lô, số đề cho một nam thanh niên không quen biết tổng số tiền là 8.480.000 đồng (tám triệu, bốn trăm tám mươi nghìn đồng) và số tiền nam thanh niên trúng thưởng là 8.800.000 đồng (tám triệu, tám trăm nghìn đồng). Tổng số tiền nam thanh niên sử dụng để đánh bạc với L và trúng thưởng 17.280.000 đồng (mười bảy triệu, hai trăm tám mươi nghìn đồng) .
- Nhận chuyển bảng số lô, số đề từ Nguyễn Văn Ng tổng số tiền là 6.463.000 đồng (sáu triệu, bốn trăm sáu mươi ba nghìn đồng), số tiền người chơi trúng thưởng là 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Tổng số tiền số lô, số đề Nga chuyển cho L và người chơi trúng thưởng là 7.263.000 đồng (bảy triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn đồng).
Xét hành vi trên của các bị cáo đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn L đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị D và Nguyễn Văn Ng đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Từ nhận nhận định trên, HĐXX xác định Cáo trạng của VKSND huyện T đã truy tố đối với các bị cáo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tới khách thể của tội phạm là sự xâm phạm trật tự công cộng. Hành vi của các bị cáo không những làm ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình các bị cáo mà còn là tệ nạn xã hội bị xã hội lên án. Chính vì vậy, đối với các bị cáo cần xét xử nghiêm bằng chế tài hình sự tương xứng với hành vi của từng bị cáo mới có tác dụng phòng ngừa chung và giáo dục riêng các bị cáo.
Xét về vai trò, tính chất, mức độ vi phạm của các bị cáo thì thấy: Đối với bị cáo L và bị cáo D đánh bạc với nhau. Đối với bị cáo L và bị cáo Ng thì thấy: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn; bởi vì, bị cáo L nói với Ng làm thư ký để chuyển bảng số lô số đề cho Luân mục đích ăn chênh lệch, nhưng không có sự phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia.
Xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự gì. Do vậy, kết luận rằng các bị cáo đều có nhân thân tốt.
Xét về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy, các bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bản thân các bị cáo nhận thức đầy đủ hành vi trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Đối với bị cáo L phạm tội lần đầu; đối với bị cáo D, Ng phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo D, Ng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo L sau khi đến Cơ quan CSĐT đã tự khai ra hành vi phạm tội của mình và của bị cáo khác; bị cáo D, Ng đã tự đến Cơ quan CSĐT đầu thú về hành vi phạm tội của mình; bị cáo L, D và Ng đều tự nguyện giao nộp lại số tiền đánh bạc và số tiền thu lời bất chính nên các bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ vào các tình tiết trên HĐXX thấy không nhất cần thiết phải ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội và cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và thấy được sự khoan hồng của phát luật.
Xét thấy, ngoài hình phạt chính cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
Đối với hành vi của Phạm Văn C, Phạm Văn Q, và Nguyễn Văn T mua số lô số đề của L; Đối với hành vi của Nguyễn Đông H, Chu Văn Th, Nguyễn Viết H mua số lô số đề của Ng. Quá trình điều tra xác định số tiền các đối tượng trên sử dụng để đánh bạc chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự; các đối tượng đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi “Đánh bạc”. Vì vậy, cùng ngày 08/01/2021 Công an huyện T đã ra các quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21,22,23,24,25,26 lần lượt đối với các đối tượng có tên nêu trên bằng hình thức phạt tiền, mức phạt đối với mỗi đối tượng là 350.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 26 Nghị định 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là là phù hợp quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
Đối với người đàn ông tên Hùng, khoảng 40 tuổi ở Hà Nội, theo L khai là người nhận số lô, số đề do L chuyển cho ngày 06/10/2020. Do L không biết tuổi, địa chỉ cụ thể của Hùng nên không có căn cứ để xác minh làm rõ. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tách phần tài liệu liên quan đến Hùng. Khi nào làm rõ sẽ xem xét, xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
Đối với hai nam thanh niên là những người theo bị cáo L, Ng khai đã trực tiếp mua số lô, số đề của L và Ng ngày 06/10/2020. Do và Ng không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của hai nam thanh niên trên nên không có cơ sở để xác minh làm rõ. Vì vậy, Cơ quan SĐT Công an huyện T đã tách phần tài liệu liên quan đến hai nam thanh để khi nào làm rõ sẽ xem xét, xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 điện thoại điện thoại Iphone X, màu đen lắp sim số 0985.809.157 của D; 01 điện thoại Iphone 6 lắp sim số 0984.527.040 của Tùng; 01 điện thoại Oppo lắp sim số 0973.035.683 của Quyền; 01 điện thoại Sam Sung A50 lắp sim số 0974.820.065 của Công; 01 điện thoại Iphone X màu trắng lắp sim số 0964.442.368 của Th; 01 điện thoại Vivo màu đen lắp sim số 0962.630.684 của Hiệp và 01 điện thoại Nokia 105 lắp sim số 0368.540.466 của H. Quá trình điều tra xác định D, T, Q, C, T, H và H đã làm mất những chiếc điện thoại nêu trên nhưng không nhớ cụ thể mất ở vị trí nào. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra thông báo truy tìm những chiếc điện thoại trên nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả nên HĐXX không xem xét.
Đối với 01 điện thoại Iphone 11 ProMax lắp sim số 0972.686.299 và số tiền 18.514.000 đồng bị cáo giao nộp (trong đó 10.514.000 đồng bị cáo đã nộp tại Cơ quan điều tra và 8.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên lai số AA/2014/0008020, ngày 22/3/2021). Xét thấy, đối với chiếc điện thoại Iphone 11 ProMax lắp sim số 0972.686.299 có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước; đối với số tiền L bán số lô số đề cho một thành niên không quen biết 8.480.000 đồng và 8.800.000 đồng người đó trúng thưởng, 400.000 đồng D trúng thưởng, 800.000 đồng của nam thanh niên trong bảng của Ng trúng thưởng, tổng cộng là 10.000.000 đồng nhưng L chưa thanh toán. Vì không xác định được Hùng nên L phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số tiền này là 18.480.000 đồng và cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Xét thấy, bị cáo đã nộp số tiền 18.514.000 đồng đối trừ với số tiền 18.480.000 đồng phải tịch thu của bị cáo; số tiền thừa là 34.000 đồng được trả cho bị cáo, nhưng giữ lại để đảm thi hành án.
Đối 01 điện thoại SamSung Dous lắp sim số 0379.261.763 và 2.682.000 đồng do bị cáo Ng giao nộp. Xét thấy, đối 01 điện thoại SamSung Dous lắp sim số 0379.261.763 liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước; đối với số tiền 2.682.000 đồng trong đó số tiền 2.460.000 đồng Ng bán số lô số đề cho người thanh niên không quen biết cần được tịch thu sung công quỹ Nhà nước, số tiền 222.000 đồng do bị cáo nộp thừa được trả lại bị cáo.
Đối với số tiền 13.670.000 đồng do bị cáo D giao nộp; 4.000.000 đồng do Tùng giao nộp; 2.600.000 đồng do C giao nộp; 740.000 đồng do Q giao nộp. Xét thấy, đây là số tiền bị cáo D và các đối tượng đánh bạc với bị cáo L nhưng chưa thanh toán cho L nên toàn bộ số tiền trên được tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 1.800.000 đồng do Th giao nộp; 1.600.000 đồng do H giao nộp và 825.000 đồng do H giao nộp; xét thấy, các đối đượng đã dùng số tiền trên vào việc đánh bạc với bị cáo Ng để Ng chuyển cho bị cáo L nhưng các đối tượng chưa thanh toán cho Ng nên toàn bộ số tiền trên được tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Nguyễn Thị D và Nguyễn Văn Ng phạm tội “Đánh bạc”.
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 và khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L18 (mười tám) tháng tù và phạt 20.000.000 đồng, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.
2. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 10 (mười) tháng tù và phạt 10.000.000 đồng, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ng 07 (bảy) tháng tù và phạt 10.000.000 đồng, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo L, D và Ng cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
* Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 ProMax lắp sim số 0972.686.299; 01 điện thoại SamSung Dous lắp sim số 0379.261.763 và số tiền 46.175.000 đồng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2021 giữa Công an huyện Thuận Thành với Chi cục Thi hành án dân sự huyện T và theo biên lai số AA/2014/0008020, ngày 22/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành). Trả lại bị cáo L số tiền 34.000 đồng và bị cáo Nga số tiền 222.000 đồng, nhưng giữ lại để đảm thi hành án.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị D và Nguyễn Văn Ng mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B. - VKSND tỉnh B. - VKSND huyện T. - THADS huyện T (án có hiệu lực pháp luật). - Bị cáo. - UBND xã nơi bị cáo cư trú. - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Xuân Hà |