- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2018/HS – PT Ngày: 07/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Công Đồng.
Các thẩm phán: Bà Nghiêm Thị Lượng.
Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Khuyến.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Ngô Xuân Quý - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 07 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2018/TLPT – HS ngày 29 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo Lê Văn Hùng do có kháng cáo của bị cáo Hùng đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2017/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
* Bị cáo có kháng cáo:
Lê Văn H, sinh năm 1997; Nơi ĐKHKTT: thôn L, xã N, huyện N1, tỉnh Nghệ An; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Dân tộc: Thổ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ, sinh năm 1969 và bà Lê Thị T, sinh năm 1971; Tiền án, tiền sự: Không; hiện tại ngoại; có mặt.
Trong vụ án này còn có bị cáo Lê Văn S, bị hại anh Lương Xuân H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Đ1, anh Nguyễn Văn D, ông Lê Văn Đ, ông Lê Văn N do không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 24/8/2017, tại công ty TNHH Dreamtech Việt Nam thuộc khu công nghiệp Visip, Lê Văn S và Lê Văn H có hành vi chiếm đoạt 01 chiếc xe máy Honda Wave BKS 36L9-9371 của anh Lương Xuân H. Sau đó, cả hai mang bán chiếc xe máy cho anh Nguyễn Văn Đ1 được 6.000.000 đồng. Sự việc bị phát giác, S tự nguyện giao nộp chiếc xe máy Huaya BKS 37F8-5449 kèm theo bảo hiểm xe máy và chứng minh nhân dân của anh H, anh Đ1 tự nguyện giao nộp chiếc xe máy Honda Wave BKS 36L9-9371, anh Nguyễn Văn D giao nộp 01 tô vít.
Tại biên bản hợp định giá và kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện T ngày 15/9/2017 kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha, màu sơn đỏ - đen, BKS 36L9-9371, số khung: 09026Y212387, số máy: HC09E6212344 xe sản xuất và lắp ráp trong nước; đã qua sử dụng; có giá trị còn lại là 10.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy BKS 36L9-9371 cho anh H, anh H đã nhận lại chiếc xe máy và không yêu cầu các bị cáo bồi thường về dân sự.
Sau khi biết sự việc ông Đ, ông N là bố đẻ các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh Đ1 6.000.000 đồng. Ông N đã nhận lại chiếc xe máy Huaya BKS 37F8-5449 thuộc sở hữu hợp pháp của mình.
Anh Nguyễn Văn D giao nộp 01 tô vít tay cầm bằng nhựa màu xanh.
Với nội dung trên, bản án số: 18/2017/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện T đã tuyên xử các bị cáo Lê Văn S và Lê Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76, Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên hình phạt 9 tháng tù đối với bị cáo Lê Văn S, tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/01/2018, bị cáo Lê Văn H kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Lê Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội. Bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ già yếu, bị cáo là con trai duy nhất trong gia đình, hiện bị bệnh ung thư vòm họng đang phải chữa trị. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có thời gian chữa bệnh và giúp đỡ gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm: Về tội danh, Bản án sơ thẩm đã quy kết bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội. Tuy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đang phải điều trị căn bệnh ung thư nhưng các vấn đề trên đã được xem xét ở án sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, giữ nguyên hình phạt tù đối với bị cáo.
Bị cáo H không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như ở phiên tòa sơ thẩm. Khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo S, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 24/8/2017 tại công ty TNHH Dreamtech Việt Nam thuộc khu công nghiệp Visip xã Đại Đồng, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, các bị cáo Lê Văn H và Lê Văn S có hành vi theo dõi rồi lét lút chiếm đoạt chiếc xe máy Honda Wave BKS 36L9-9371 của anh H trị giá 10.000.000 đồng. Do vậy, bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo H và S phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của bị cáo H: Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh Đ1. Mặt khác, bị cáo tuy cùng thực hiện tội phạm với S nhưng có vai trò bị cáo sau bị cáo S, giá trị tài sản trộm cắp không lớn. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo xuất trình bệnh án đang phải điều trị căn bệnh ung thư vòm họng từ tháng 5/2016 vẫn đang phải xạ trị. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, là người dân tộc thiểu số, phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Xét thấy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo không cần thiết cách ly khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo H cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H, sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt: Lê Văn H 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê Văn H cho UBND xã N, huyện N1, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bị cáo Lê Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao; - VKSND tỉnh; - Phòng PV 27; PC 81 Công an tỉnh; - TAND huyện T; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Vũ Công Đồng |