vanban.org

Bản án 11/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Quảng Điền, TP. Huế Tuyên án 27/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản .

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm gi 23/8/2017. Về trách nhiệm Dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 bộ luật Dân sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Tự phạm tội " Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản .
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG ĐIỀN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2017/HSST
Ngày 27 tháng 12 năm 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quốc Công

- Các Hội thẩm:

1. Ông Nguyễn Ánh Cầu – Trưởng Phòng Thông tin – Văn hóa huyện Quảng Điền.

2. Bà Phan Thị Thanh Phượng – Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Quảng Điền.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền tham gia phiên toà: Ông: Thái Ngọc Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2017, tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Quảng Điền mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 11/2017/HSST, ngày 24/11/2017 đối với:

Bị cáo: Trần Văn T; sinh ngày: 06/08/1979 tại Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ dân phố Giang Đông, thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hoá: 5/12; con ông: Trần Huỳnh, sinh năm 1957; con bà: Lê Thị Nẩm, sinh năm 1958; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ: Dương Thị Thảo, sinh năm 1992: Bị cáo chưa có con.

Quá trình nhân thân:

Nhỏ sống cùng gia đình, được cho ăn học đến lớp 5/12 thì nghỉ học ở nhà lao động giúp gia đình. Ngày 4/12/2000 bị Công an huyện Quảng Điền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng . Sau đó tiếp tục sinh sống tại địa phương, nhiều lần trộm cắp tài sản và gần đây ngày 15/9/2015 chấp hành xong án phạt tù theo bản án số 05/HSST ngày 10/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền và quay trở về địa phương làm ăn cho đến ngày phạm tội.

Tiền sự: không; Tiền án: Có 07 tiền án. Cụ thể:

01/ Ngày 16/10/1998 bị TAND huyện Quảng Điền xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 25/HSST.

02/ Ngày 29/11/2001 bị TAND huyện Quảng Điền xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 10/HSST.

03/ Ngày 25/09/2003 bị TAND huyện Quảng Điền xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản ,theo bản án số 08/HSST.

04/ Ngày 25/09/2007 bị TAND huyện Quảng Điền xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản ,theo bản án số 11/HSST.

05/ Ngày 13/08/2010 bị TAND huyện Quảng Điền xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản ,theo bản án số 09/HSST.

06 / Ngày 08/01/2013 bị TAND huyện Quảng Điền xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản , theo bản án số 01/HSST.

07/ Ngày 10/3/2015 bị TAND huyện Quảng Điền xử phạt 09 tháng tù giam. Trộm cắp tài sản , theo bản án số 05/HSST.

Khởi tố bị can ngày: 25/8/2017; Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm gi từ ngày 23/8/2017 đến ngày 25/8/2017 chuyển tạm giam cho đến nay; bị cáo có mặt.

- Người bị hại: Bà Hoàng Thị Lưa; trú tại: Thôn Nam Giảng, xã Quảng Thái, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Thành Tiến; trú tại: Thôn Mai Dương, xã Quảng Phước, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

2. Ông Hồ Văn Lùng; trú tại: Thôn Hạ Long, xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Văn Đức Khánh; trú tại: Thôn Nam Giảng, xã Quảng Thái, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

2. Ông Phan Anh Minh; trú tại: Tổ dân phố Tráng Lực, thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

- Đại diện gia đình bị cáo: Bà Lê Thị Nẫm (là mẹ của bị cáo Tự); trú tại: Tổ dân phố Giang Đông, thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Trần Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/8/2017, Trần Văn Tự điều khiển xe môtô của mình BKS 75HX - 0042 theo hướng Quảng Lợi - Quảng Thái. Khi đến khu vực sân bóng thôn Nam Giảng, xã Quảng Thái thì dừng lại để đi vệ sinh, tại đây Tự phát hiện nhà bà Hoàng Thị Lưa (SN: 1958) trú tại Nam Giảng, Quảng Thái đóng cửa nên Tự băng qua hàng rào tre đi đến cửa hông nhà dưới dùng tay phải cầm ổ khóa và b thì hai khung khóa bật ra, Tự đi vào bên trong nhà đến tủ bán hàng thấy 01 hộp nhựa đựng tiền và lấy toàn bộ số tiền trong hộp để vào trong túi quần. Tiếp đến, Tự đi vào phòng ngủ thấy 01 tủ sắt rồi dùng tay phải giật cánh tủ bên phải ra và lục lọi lấy 01 con heo nhựa màu đỏ (ống binh) được gói trong cái áo thun nam đi ra để tẩu thoát thì gặp bà Hoàng Thị Lưa, khi gặp bà Lưa thì Tự nói: Dì à, Dì à thì bà Lưa liền nói: Chú ăn trộm, chú ăn trộm rồi Tự chạy ra phía hàng rào lấy xe chạy theo hướng Quảng Thái - Quảng Lợi. Khi đến thôn Hà Lạc, xã Quảng Lợi thì Tự r vào trong đường xóm rồi dừng lại để kiểm tra số tiền vừa trộm được là : 2.510.000 đồng (Hai triệu năm trăm mười ngìn đồng) rồi vứt con heo nhựa tại đây cùng một hóa đơn tiền điện. Tự điều khiển xe về thị trấn Sịa, sau đó có cho anh Nguyễn Thành Tiến (bạn của Tự) ở thôn Mai Dương,xã Quảng Phước mượn 1.000.000đ (một triệu đồng), số tiền còn lại Tự dùng vào việc tiêu xài cá nhân.

* Vật chứng vụ án:

- 01 (một) đôi dép tông, dạng hai quai, màu đen, hiệu New FASHION ADIVA;

- 01 (một) bịch nhựa màu trắng đục;

- 01 (một) xe môtô BKS 75HX - 0042, nhãn hiệu Ferroli số khungM XB - 15520, số máy FBM - 015520;

- 01 (một) hóa đơn thanh toán tiền điện số 1824596, ngày 10/7/2017 mang tên ông Hồ Viết Tây,chồng của bà Lưa.

- 01 (một) con heo nhựa màu đỏ, dạng heo ống binh;

- 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 002956 mang tên Văn H u Tình, địa chỉ: Mỹ Thạnh, Quảng Lợi, Quảng Điền BKS 75HX - 0042, số khung M XB - 15520, số máy FMB – 015520, là người đã bán chiếc xe máy trên cho Tự.

- Số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) do anh Tiến nộp lại.

Vào ngày 26/10/2017 cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Điền Quyết định xử lý vật chứng số 40 b ng hình thức trả lại số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) cho người bị hại bà Hoàng Thị Lưa.

* Về dân sự:

Bà Hoàng Thị Lưa yêu cầu bị can Tự đền bù số tiền 2.510.000 đồng (Hai triệu năm trăm mười nghìn đồng). Hiện bị can Tự đã bồi thường số tiền 1.000.000 đồng nên bà Lưa yêu cầu bị can Tự tiếp tục bồi thường số tiền còn lại.

Tại bản cáo trạng số 11/QĐ/KSĐT ngày 22 tháng 11 năm 2017, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, đã truy tố Trần Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên Tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn gi nguyên Cáo trạng vầ đề nghị Hội đồng xét xử :

Áp dụng Điều 138 Bộ luật hình sự, để tuyên bố Trần Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản .

Áp dụng khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự dể xử phạt Trần Văn T từ 9 đến 12 tháng tù.

- Về trách nhiệm Dân sự:

Áp dụng các Điều 584,585,586,589 BLDS buộc bị cáo Trần Văn T bồi thường số tiền 1.510.000 đ cho bà Hoàng Thị Lưa.

- Về vật chứng : đề nghị tiêu hủy 01 (một) đôi dép tông, dạng hai quai, màu đen, hiệu New FASHION ADIVA; 01 (một) bịch nhựa màu trắng đục; 01 (một) hóa đơn thanh toán tiền điện số 1824596, ngày 10/7/2017 mang tên ông Hồ Viết Tây,chồng của bà Lưa; 01 (một) con heo nhựa màu đỏ, dạng heo ống binh. Trả lại cho bị cáo Tự 01 (một) xe môtô BKS 75HX - 0042, nhãn hiệu Ferroli số khungM XB - 15520, số máy FBM – 015520 k m theo 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 002956 mang tên Văn H u Tình, địa chỉ: Mỹ Thạnh, Quảng Lợi, Quảng Điền BKS 75HX - 0042, số khung M XB - 15520, số máy FMB – 015520 .

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo, người bị hại và nh ng người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY:

Có đủ cơ sở kết luận:

Do muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên ngày 14/8/2017, lợi dụng lúc vắng người tại nhà của bà Hoàng Thị Lưa ở tại thôn Nam Giảng, xã Quảng Thái bị cáo Trần Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản số tiền là 2.510.000 đồng . Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, của người bị hại, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi trộm cắp tài sản của người khác của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở h u tài sản của công dân mà pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy r ng:

Trần Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý. Mặc dù nhận thức được việc xâm phạm quyền sở h u tài sản của công dân là vi phạm pháp luật và bị xã hội lên án, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nhưng bị cáo vẫn có hành vi trộm cắp tài sản, dẫn đến việc phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo được hưởng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự; tại phiên Tòa, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo hưởng thêm tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm vào tình tiết là tái phạm được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân bị cáo Trần Văn T có nhân thân rất xấu đã có 07 tiền án về tội trộm cắp tài sản nên cần phải có hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

-Về trách nhiệm Dân sự:

Tại phiên Toà hôm nay, người bị hại là Hoàng Thị Lưa yêu cầu bị cáo Tự bồi thường số tiền 1.510.000 đ

Xét thấy yêu cầu của bà Lưa là có căn cứ. Vậy, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại số tiền 1.510.000 đ .

Về vật chứng của vụ án :

-01 (một) đôi dép tông, dạng hai quai, màu đen, hiệu New FASHION ADIVA; 01 (một) bịch nhựa màu trắng đục;; 01 (một) hóa đơn thanh toán tiền điện số 1824596, ngày 10/7/2017 mang tên ông Hồ Viết Tây,chồng của bà Lưa; 01 (một) con heo nhựa màu đỏ, dạng heo ống binh; 01 (một) xe môtô BKS 75HX - 0042, nhãn hiệu Ferroli số khungM XB - 15520, số máy FBM – 015520; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 002956 mang tên Văn H u Tình, địa chỉ: Mỹ Thạnh, Quảng Lợi, Quảng Điền BKS 75HX - 0042, số khung M XB - 15520, số máy FMB – 015520 .

Xét thấy,

- 01 đôi dép; 01 bịch nhựa; 01 hóa đơn tiền điện; 01 con heo nhựa là tài sản không có giá trị, nghĩ cần tịch thu và tiêu hủy.

- 01 (một) xe máy Wave BKS: 75HX - 0042, nhãn hiệu FERROLI số khung: M7XB - 15520, số máy FBM – 015520. 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 002956 mang tên chủ xe Văn H u Tình, địa chỉ: Mỹ Thạnh, Quảng Lợi, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế BKS: 75HX – 0042, số khung: M7XB - 15520, số máy FBM – 015520 là các tài sản của bị cáo; không phải là công cụ phương tiện phạm tội; tại phiên Tòa bị cáo xin trả lại để sử dụng; nghĩ cần chấp nhận

Về án phí hình sự sơ thẩm:

bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vãö aïn phê dân sæû så tháøm :

bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án là 300.000 đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản .

- Áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự .

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm gi 23/8/2017.

Về trách nhiệm Dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Trần Văn T bồi thường cho bà Hoàng Thị Lưa số tiền là 1.510.000 đ ( một triệu năm trăm mười nghìn đồng)

* Về vật chứng : áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy : 01 (một) đôi dép tông, dạng hai quai, màu đen, hiệu NEW FASHION ADIVA, chiếc bên trái cở số 37, chiếc bên phải cở số 36; 01 (một) bịch nhựa màu trắng đục; 01 (một) hóa đơn thanh toán tiền điện số 1824596, ngày 10/7/2017 mang tên khách hàng Hồ Viết Tây, địa chỉ: thôn Nam Giảng, Quảng Thái, Quảng Điền; 01 (một) con heo nhựa, dạng heo nhựa ống binh .

- Trả lại bị cáo Trần Văn T 01 (một) xe máy Wave BKS: 75HX - 0042, nhãn hiệu FERROLI số khung: M7XB - 15520, số máy FBM – 015520 và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 002956 mang tên chủ xe Văn H u Tình, địa chỉ: Mỹ Thạnh, Quảng Lợi, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế BKS: 75HX – 0042, số khung: M7XB - 15520, số máy FBM – 015520.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/11/2017 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Điền và cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Điền , tỉnh Thừa Thiên Huế)

Về án phí hình sự sơ thẩm :

Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm :

Bị cáo Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Báo cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a,7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .

Cỡ chữ