- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá K phạm tội “Đánh bạc” và “Gá bạc” - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá K. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2018/HSPT Ngày: 27-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bạch Đăng Thi
Các thẩm phán: Ông Ngô Quang Dũng
Bà Nguyễn Thị Kim Dung
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Tố Hoa - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hồng Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 27/9/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 144/2018/TLPT-HS ngày 10/8/2018 đối với bị cáo Nguyễn Bá K và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Bá K, Nguyễn Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 31/2018/HSST ngày 08/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang.
* Các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Bá K, sinh năm 1977; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 06/12; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Bá T1; Con bà: Nguyễn Thị B; Vợ là: Nguyễn Thị H; Có 02 con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 04/12/2017 đến ngày 07/12/2017 được áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú (Vắng mặt).
2. Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1972; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 06/12; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn T2 (đã chết); Con bà: Hoàng Thị T; Vợ là: Nguyễn Thị Q; Có 04 con; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/03/2005 bị Trưởng Công an huyện Hiệp Hòa xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 04/12/2017 đến ngày 07/12/2017 được áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
Ngoài ra vụ án còn có các bị cáo khác không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 45 phút ngày 04/12/2017, Công an huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang bắt quả tang các đối tượng đang đánh bạc dưới hình thức đánh “ xóc đĩa” tại nhà ở của Nguyễn Bá K1 ở Thôn N, xã M, huyện H bắt các đối tượng gồm: Nguyễn Bá K, Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn M, Ngô Văn C, Nguyễn Văn T, Ngô Văn H2, Ngô Văn Đ1đang đánh bạc, ngoài ra còn Ngô Hoàng H3, sinh năm 1989 ở Thôn N, xã M, huyện H có mặt tại chiếu bạc.
Thu tại chiếu bạc: 6.200.000 đồng; 01 bát sứ; 01 đĩa sứ; 04 quân vị bằng vỏ bao thuốc lá một mặt mầu vàng, một mặt mầu trắng; 01 chiếu cói; 01 ga trải đệm mầu trắng hồng.
Thu trên người các đối tượng: Ngô Văn Đ 7.000.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphon 7 mầu đen, 01 điện thoại di động Nokia mầu đen; Ngô Hoàng H3 70.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphon 6 plus mầu trắng; Nguyễn Văn T 3.400.000 đồng, 01 điện thoại di động Vieltel mầu đen; Nguyễn Bá K 5.400.000 đồng, 01 điện thoại di động Samsung; Nguyễn Văn H1 2.700.000 đồng, 01 điện thoại di động Nokia mầu đen; Ngô Văn M 12.000.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphon6 Plus; Ngô Văn C 3.500.000 đồng, 01 điện thoại di động Vivo mầu trắng; Ngô Văn H2 30.000 đồng.
Khám xét khẩn cấp nhà Kthu giữ: 01 kéo bằng kim loại có chuôi nhựa mầu xanh dùng để cắt quân vị tại bàn uống nước phòng khách nhà K.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 04/12/2017, Nguyễn Bá K đang ở nhà thì Ngô Văn H2, Ngô Văn Đ1, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T đến nhà K chơi. Sau đó các đối tượng rủ nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền bằng hình thức đánh “xóc đĩa” tại nhà K, Kđồng ý và đưa cho H2 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba để H2 cắt quân vị; K trực tiếp chải chiếu và lấy bát, đĩa sứ để đánh bạc. Một lúc sau Ngô Văn Đ, Ngô Văn C, Ngô Văn M đến và tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Quá trình đánh bạc, K là người xóc cái và thu được 600.000 đồng tiền hồ của Đ1, T, Đ, C, H1, M. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày bị cơ quan công an bắt quả tang.
Hình thức đánh bạc của các đối tượng như sau:
Một người đứng ra cầm cái (còn gọi là người xóc cái), người cầm cái cho 04 quân vị làm bằng tre để vào chiếc đĩa sứ con, sau đó úp chiếc bát sứ con lên xóc để cho các quân bên trong lật đi lật lại. Khi người cầm cái xóc xong, các con bạc khác ngồi xung quanh lấy tiền ra đặt cửa. Có hai cửa "chẵn" và "lẻ", các con bạc thích đặt tiền vào cửa "chẵn" hay cửa "lẻ" thì tùy và đặt bao nhiêu tiền tuỳ thích. Sau khi các con bạc đã đặt tiền, người cầm cái mở bát ra. Nếu các quân vị 04 mặt màu trắng hay 04 mặt màu vàng hoặc 02 mặt vàng + 02 mặt trắng ngửa lên thì là “ chẵn”, ai đặt bên cửa "chẵn" được ăn tiền, ai đặt cửa lẻ thua. Các con bạc nào đánh cửa chẵn được cái trả tiền, số tiền được ăn bằng đúng số tiền đã đặt cửa. Khi 04 quân vị 03 mặt màu vàng + 01 màu trắng hoặc 03 mặt màu trắng + 01 mặt màu vàng ngửa lên thì là “lẻ”, nếu ai đặt cửa “lẻ” thì được ăn tiền, số tiền được cũng bằng đúng số tiền đã đặt cửa, người cầm cái lấy tiền bên cửa "chẵn" trả cho bên cửa "lẻ". Trong quá trình cái thu tiền bên thua trả cho bên được thiếu tiền cái bù tiền, thừa tiền cái được. Cứ đánh như vậy hết ván này sang ván khác.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:
1. Nguyễn Bá K khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 04/12/2017 K đang ở nhà thì H2, Đ1, H1, T đến nhà K chơi. Các đối tượng rủ nhau đánh bạc tại nhà K và được K đồng ý. K lấy vỏ bao thuốc lá Vinataba đưa cho H2 cắt quân vị, K trực tiếp trải chiếu, lấy bát sứ, đĩa sứ để đánh bạc tại nhà K. Quá trình đánh bạc, Kcó 4.200.000 đồng dùng để đánh bạc, K trực tiếp xóc cái, sau đó có Đ, C, M đến tham gia đánh bạc cùng. K thu được 600.000 đồng tiền hồ của các đối tượng H1, T, Đ1, M, Đ, C và sử dụng vào việc đánh bạc. Lúc này K thắng bạc được 600.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ trên người K số tiền 5.400.000 đồng (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng) đều là tiền dùng vào việc đánh bạc.
2. Ngô Văn H2 khai nhận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 04/12/2017 H2 đến nhà K chơi, sau đó có T, Đ1, H1 đến nhà K. Các đối tượng rủ nhau đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh “xóc đĩa”. H2 là người cắt quân vị và dùng 130.000 đồng để đánh bạc, K là người sóc cái. Khi các đối tượng đang đánh bạc có Đ, C, M đến và tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. H2 đánh được nhiều ván và bị thua còn 30.000 đồng. Đến 13 giờ 45 phút cùng ngày bị công an bắt quả tang. H2 bị thu giữ 30.000 đồng.
3. Ngô Văn Đ1 khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 04/12/2017 Đ1 đến nhà Kchơi gặp T, H2, H1 đang ở nhà K. Các đối tượng rủ nhau đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh “xóc đĩa”. H2 là người cắt quân vị, K chải chiếu, lấy bát đĩa và sóc cái. Quá trình đánh bạc Đ1 dùng 500.000 đồng để đánh bạc, Đ1 nộp 100.000 đồng tiền hồ cho K. Khi các đối tượng đang đánh bạc có Đ, C, M đến và tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Đ1 đánh được nhiều ván và bị thua còn 100.000 đồng, khi công an bắt quả tang Đ1 vứt tiền tại chiếu bạc.
4. Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 04/12/2017 T đến nhà K chơi gặp Đ1, H2, H1 đang ở nhà K. Các đối tượng rủ nhau đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh “xóc đĩa”. H2 là người cắt quân vị, K chải chiếu, lấy bát đĩa và sóc cái. Quá trình đánh bạc T dùng 1.600.000 đồng để đánh bạc, T nộp 100.000 đồng tiền hồ cho K. Khi các đối tượng đang đánh bạc có Đ, C, M đến và tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Đ1 đánh được nhiều ván và thắng, khi công an bắt quả tang T bị thu giữ 3.400.000 đồng là tiền đánh bạc và thắng bạc.
5. Ngô Văn Đ khai nhận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 04/12/2017 Đ đến nhà K chơi thấy H1, T, Đ1 đang đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “xóc đĩa” tại gian bếp nhà K. Đ mang theo 7.000.000 đồng, dùng 3.000.000 đồng vào tham gia đánh bạc cùng các đối tượng, sau đó có C và M đến và tham gia đánh bạc cùng. Quá trình đánh bạc, K là người sóc cái, Đ nộp cho K 100.000 đồng tiền hồ. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, Công an bắt quả tang, Đ hòa tiền, bị thu giữ 7.000.000 đồng, trong đó có 3.000.000 đồng dùng để đánh bạc.
6. Ngô Văn C khai nhận: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 04/12/2017 C đến nhà K chơi thấy H1, T, Đ1 đang đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “xóc đĩa” tại gian bếp nhà K. C mang theo 5.500.000 đồng dùng đánh bạc và vào tham gia đánh bạc cùng các đối tượng, sau đó có Đ và M đến và tham gia đánh bạc cùng. Quá trình đánh bạc K là người sóc cái, C nộp cho K 100.000 đồng tiền hồ. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày bị Công an bắt quả tang C bị thua, số tiền còn lại 3.500.000 đồng bị thu giữ.
7. Ngô Văn M khai nhận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 04/12/2017, M đến nhà K chơi thấy H1, T, Đ1 đang đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “xóc đĩa” tại gian bếp nhà K. M mang theo 1.500.000 đồng dùng đánh bạc và tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Sau đó có Đ, C đến và tham gia đánh bạc cùng. Quá trình đánh bạc, K là người sóc cái, M nộp cho K 100.000 đồng tiền hồ, M đánh được nhiều ván và thắng. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, Công an bắt quả tang, M bị thu giữ 12.000.000 đồng là tiền đánh bạc và thắng bạc.
8. Nguyễn Văn H1 khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/12/2017, H1 đến nhà Kchơi thấy K, H2, T, Đ1 đang chuẩn bịđánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “xóc đĩa” tại gian bếp nhà K. H1 mang theo 3.000.000 đồng dùng đánh bạc và vào tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Sau đó Đ, C, M đến và tham gia đánh bạc cùng. Quá trình đánh bạc K là người sóc cái, H1 nộp cho K 100.000 đồng tiền hồ. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày bị Công an bắt quả tang, H1 bị thua còn 2.700.000 đồng, bị thu giữ.
Đối với anh Ngô Hoàng H3 ngồi chơi ở nhà K, anh H3 không tham gia đánh bạc và không liên quan đến việc đánh bạc nên không xem xét xử lý. Ngày 02/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã xử lý vật chứng trả lại: anh H3 70.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphon 6 plus; Trả lại Đ 4.000.000 đồng, 02 điện thoại di động; T, H1, K, M, C mỗi đối tượng 01 điện thoại di động bị thu giữ khi bắt quả tang.
Trong quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 24/KSĐT ngày 26/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Bá K ra trước Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang để xét xử về tội “Đánh bạc” và “gá bạc” theo khoản 1 Điều 248 và khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 1999. Các bị cáo Ngô Văn C, Ngô Văn T, Ngô Văn Đ, Ngô Văn M, Ngô Văn Đ1, Ngô Văn H2, Nguyễn Văn H1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2018/HSST ngày 08/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Bá K phạm tội “Đánh bạc và gá bạc”, các bị cáo Ngô Văn C; Nguyễn Văn T; Ngô Văn Đ; Ngô Văn M; Ngô Văn Đ1; Ngô Văn H2; Nguyễn Văn H1 phạm tội "Đánh bạc".
Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội “đánh bạc” và khoản 1 Điều 249, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội “gá bạc”.
Xử phạt: Nguyễn Bá K 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”; 01 năm tù về tội “gá bạc” và 5.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
Áp dụng Điều 50 của bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án. Nhưng được trừ thời hạn đã bị tạm giữ từ ngày 04/12/2017 đến ngày 07/12/2017.
Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời hạn đã bị tạm giữ từ ngày 04/12/2017 đến ngày 07/12/2017 và phạt tiền 04 triệu đồng sung công quỹ Nhà nước.
Ngoài ra bản án còn tuyên phạt một số bị cáo khác, tuyên phần xử lý vật chứng, án phí, quyền thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, cùng ngày 15/5/2018 các bị cáo Nguyễn Bá K kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin hưởng án treo với lý do: Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bản thân bị cáo là lao Đ1 chính trong gia đình. Bị cáo hiện đang phải nuôi bố mẹ già, vợ thường xuyên đau ốm, các con đang tuổi ăn học, mức hình phạt của bản án sơ thẩm là nặng nên xin hưởng án treo hoặc mức án nhẹ nhất. Bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin hưởng án treo với lý do: Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bản thân bị cáo là lao Đ1 chính trong gia đình, mức hình phạt của bản án sơ thẩm là nặng, bản thân bị cáo đau ốm, các con đang tuổi ăn học nên xin hưởng án treo hoặc mức án nhẹ nhất.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Bá Kvắng mặt.
Bị cáo Nguyễn Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo chứ không xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bản thân bị cáo là lao Đ1 chính trong gia đình, mức hình phạt của bản án sơ thẩm là nặng, bản thân bị cáo đau ốm, các con đang tuổi ăn học.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn T không tranh luận gì.
Bị cáo Nguyễn Văn Tnói lời sau cùng: Xin hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Bá K, Nguyễn Văn T đã được làm trong thời hạn kháng cáo và gửi đến Tòa án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Bá Kvắng mặt tại phiên tòa, Tòa án đã tống đạt các thủ tục tố tụng hợp lệ, việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án trong trường hợp Hội đồng xét xử không ra bản án không có lợi cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 04/12/2017, vì mục đích thu tiền hồ và muốn kiếm lời bằng hình thức Đánh bạc được thua bằng tiền. Nguyễn Bá K đã cho các đối tượng đánh bạc trái phép tại nhà ở của mình ở Thôn N, xã M, huyện H thu được 600.000 đồng tiền hồ. Ngoài ra, K còn trực tiếp đánh bạc cùng các đối tượng gồm: Ngô Văn H2, Ngô Văn Đ1, Nguyễn Văn T, Ngô Văn Đ, Ngô Văn C, Ngô Văn M, Nguyễn Văn H1. Các đối tượng đánh bạc đến 13 giờ 40 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hoà bắt quả tang. Thu giữ toàn bộ tang vật dùng vào việc phạm tội. Tổng số tiền các đối tượng dùng vào đánh bạc là: 36.230.000 đồng (ba mươi sáu triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) trong đó thu tại chiếu bạc: 6.200.000 đồng (sáu triệu hai trăm nghìn đồng); thu trên người các đối tượng số tiền dùng để đánh bạc là: 30.030.000 đồng (ba mươi triệu không trăm ba mươi nghìn đồng).
Như vậy hành vi của Nguyễn Bá K đã phạm vào tội “Đánh bạc” và “Gá bạc” theo khoản 1 Điều 248 và khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 1999; Hành vi của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999. Từ những nội dung trên án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Bá Kvề tội “Đánh bạc” và “Gá bạc” theo khoản 1 Điều 248 và khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 1999, Nguyễn Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá K, Nguyễn Văn T thấy:
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào là có căn cứ.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định đối với hành vi “Đánh bạc” các bị cáo đều có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Đối với hành vi “Gá bạc” của Nguyễn Bá K chỉ được áp dụng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 là “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là có căn cứ.
Xét về nhân thân các bị cáo thì thấy: Bị cáo T có nhân thân ngày 24/3/2005 bị Trưởng Công an huyện Hiệp Hòa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ hành vi “Đánh bạc”, “Gá bạc” là một trong những tệ nạn xã hội cần phải bài trừ, vì đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn khác như trộm cắp, lừa đảo…, là nguyên nhân làm ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp tới trật tự xã hội, làm mất trật tự trị an địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Án sơ thẩm đã căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt Nguyễn Bá K 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”; 01 năm tù về tội “Gá bạc” là có căn cứ, tại quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đối chiếu với Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì bị cáo Kkhông đủ điều kiện để được hưởng án treo, nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, tại quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có số tiền đánh bạc ít, giữ vai trò thứ yếu trong vụ án, có một nhân thân xong từ năm 2005, căn cứ theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì bị cáo T có đủ điều kiện được hưởng án treo, nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương vẫn đủ điều kiện giáo dục bị cáo thành người công dân biết tuân thủ pháp luật.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá K không được chấp nhận nên bị cáo K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo điểm b khoản 2, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo T được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá K. Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa bản án sơ thẩm.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá K phạm tội “Đánh bạc” và “Gá bạc”, bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội " Đánh bạc".
- Về hình phạt:
+ Áp dụng: Khoản 1 Điều 248; các điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội “Đánh bạc” và khoản 1 Điều 249, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội “Gá bạc”.
Xử phạt: Nguyễn Bá K 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”; 01 (một) năm tù về tội “Gá bạc”.
Áp dụng Điều 50 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án. Nhưng được trừ thời hạn đã bị tạm giữ từ ngày 04/12/2017 đến ngày 07/12/2017.
+ Áp dụng: Khoản 1 Điều 248; các điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999. Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của Luật Thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2]. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm b, h khoản 2, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Bá K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Công an tỉnh Bắc Giang; - STP Bắc Giang; - Cục THADS tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã kí) Bạch Đăng Thi |