vanban.org

Bản án 108/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 13/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒ A Á N NHÂN DÂN
́
THÀ NH PHÔ THÁ I BÌNH
TỈNH THÁ I BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Á n số: 108/2017/HSST
Ngay 13 - 7 - 2017
̀

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Hồng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hà Thị Thu Phương - Trưởng phòng giáo dục, UBND TP Thái Bình

2. Ông Hoàng Văn Đức - Trưởng phòng y tế công cộng, Trung tâm y tế thành phố Thái Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa:

Ông Lương Duy Hiển - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 13 tháng 7 năm 2017, ta ̣i tru ̣ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Binh, tinh Thái Binh, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vu ̣ án hinh sự thu ̣

̀

̉

̀

̀ lý số 95/2017/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2017, quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số 113/2017/QĐXX - ST ngày 29 tháng 6 năm 2017, đối vớ i bi ̣ cáo:

ĐẶNG XUÂN T, sinh ngày 26/12/1986 tại Thái Bình; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã V, thành phố T, tinh T; Nghề nghiệp: lao động tự do; Tr̉

nh độ văn hóa: 9/12;́ Con ông Đặng Danh T và bà Vũ Thị P; Có vợ là Nguyễn Phan Ngọc D đang sống ly thân và có 01 con chung sinh năm 2015; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 23/3/2017 đến ngày 01/4/2017 chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình.

(Trích xuất có mặt tại phiên tòa)

Người bi ̣ hại:

1. Chị Đặng Thị H, sinh năm 1969; trú tại thôn Đ, xã V, thành phố T, tỉnh T.

2. Chị Đào Thị H, sinh năm 1979; trú tại thôn Đ, xã V, thành phố T,tỉnh T. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghia vụ liên quan:

̃

1. Anh Đặng Văn T, sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã V, thành phố T (có mặt)

2. Anh Đặng Minh H, sinh năm 1967, trú tại thôn Đ, xã V, thành phố T (có mặt).

3. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983, trú tại thôn Đ, xã V, thành phố T (có mặt).

4. Anh Đặng Văn H, sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã V, thành phố T (Vắng mặt).

5. Ông Đặng Danh T, sinh năm 1957; trú tại thôn Đ, xã V, thành phố T. (có mặt).

6. Chị Trần Thị M, sinh năm 2000, trú tại thôn Đ, xã V, thành phố T. (vắng mặt).

Người làm chứng: Bà Bùi Thị L - sinh năm 1946; trú tại thôn Đ, xã V, thành phố T.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ Á N:

Qua các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và quá trình xét hỏi, tranh luận ta ̣i phiên tòa, nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau: Trong các ngày 11/3/2017 và 22/3/2017, Đặng Xuân T đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản ở thôn Đ, xã V, thành phố T, cụ thể như sau:

* Vụ thứ nhất: Khoảng 23 giờ ngày 11/3/2017, Đặng Xuân T đi bộ quanh thôn Đ, xã V, thành phố T mục đích trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khi T đi đến cổng nhà chị Đặng Thị H, sinh năm 1969 ở cùng thôn thì phát hiện thấy cổng nhà chị H không khóa, T liền mở cổng đi vào đến cửa đại nhà chị H thì thấy cửa cài then, khóa cửa ở trạng thái mở. T mở cửa, đi qua phòng khách vào buồng ngủ nhà chị H lục tìm và lấy: 01 chiếc ấm điện đun nước nhãn hiệu ĐẠT TƯỜNG; 01 chiếc nồi cơm điện nhãn hiệu FULCRUM; 01 chiếc quạt treo tường nhãn hiệu CHINGHAI để trên mặt tủ; 01 chiếc quạt cây nhãn hiệu FUJIFAN để dưới nền nhà; quay ra phòng khách T lấy 01 chiếc tivi nhãn hiệu KAIHONG 21 inch; 01 chiếc đồng hồ tranh thêu chữ thập kích thước 70x50 cm khung bằng gỗ và 02 bức tranh thêu chữ thập kích thước 70x50cm khung bằng gỗ; sau đó T đi xuống bếp nhà chị H lấy 01 chiếc vỏ bình gas bằng kim loại sơn màu xanh nhãn hiệu VIỆT XÔ GAS. T chia số tài sản trên làm 04 phần rồi lần lượt mang về cất giấu tại chuồng lợn sau nhà mình. Sau đó trong buổi chiều ngày 12/3/2017, T mang chiếc nồi cơm điện và chiếc quạt treo tường đến bán cho anh Đặng Văn T, sinh năm 1982 ở cùng thôn làm nghề mua bán và sửa chữa đồ điện dân dụng được 70.000 đồng; mang chiếc đồng hồ và 02 bức tranh thêu bán cho anh Đặng Văn H, sinh năm 1977 ở thôn T, xã V, thành phố T được 200.000 đồng; mang vỏ bình gas đến bán cho chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 ở cùng thôn làm nghề mua bán gas và bếp gas được 120.000 đồng; mang chiếc quạt cây cùng chiếc ấm điện đến bán cho anh Đặng Minh H, sinh năm 1967, ở cùng thôn làm nghề sửa chữa và mua bán đồ điện dân dụng được 200.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Còn chiếc tivi T để ở phòng khách để sử dụng. Tổng tài sản T trộm cắp của gia đình chị Đặng Thị H trị giá 2.580.000 đồng.

* Vụ thứ hai: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/3/2017, Đặng Xuân T đi bộ đến cổng nhà chị Đào Thị H, sinh năm 1979 ở cùng thôn thì thấy cổng nhà chị H khóa bằng khóa dây, không có ai ở nhà, xung quanh vắng người. T liền trèo qua tường dậu đi qua sân đến cửa đại nhà chị H thì thấy cửa có 02 lớp, đang được khóa bằng khóa Việt Tiệp. Tiếm quan sát thấy bên bờ tường hiên nhà chị H có 01 chiếc chìa khóa Việt Tiệp nên lấy tra vào ổ khóa thì thấy mở được khóa. T mở cửa đi vào trong buồng ngủ của chị H mở tủ gỗ lục tìm và lấy 01 quạt tản gió nhãn hiệu Điện Cơ 91 - Bộ quốc phòng; 01 túi nilon treo trên móc quần áo, bên trong có 05 chiếc bông hoa tai bằng kim loại (02 chiếc màu trắng, 03 chiếc màu vàng), 01 máy bơm nước đã cũ nhãn hiệu BAO XIANG PAI để ở cạnh tủ. Sau đó T mang số tài sản trên ra ngoài, khóa cửa lại, để chìa khóa vào vị trí cũ rồi mang máy bơm và quạt điện đến bán cho anh Đặng Văn T, sinh năm 1982 ở cùng thôn làm nghề mua bán và sửa chữa đồ điện dân dụng được 140.000đồng, còn 05 chiếc bông tai T mang về để trên nóc tủ trong buồng ngủ của T. Trong lúc T đến nhà anh T bán tài sản đã trộm cắpthì chị Đào Thị H đi xe máy về nhà để xe máy ở phòng khách và treo chùm chìa khóa xe máy ở móc áo trên tường trong phòng ngủ rồi khóa cửa lại, để chùm chìa khóa ở chỗ cũ và tiếp tục đi làm. Ngay sau khi T về nhà cất 05 chiếc bông tai, T liền quay lại nhà chị Đào Thị H dùng 02 tay đẩy mạnh làm khóa cửa bung ra,T đi vào trong lấy chìa khóa cửa vẫn để ở vị trí cũ mở cửa đi vào trong nhà thấy có 01 xe máy để ở phòng khách, T vào trong buồng ngủ lục tìm và lấy chùm chìa khóa xe máy ra mở cốp xe máy lục tìm và lấy 01tập tiền để ở trong túi áo khoác cất giấu vào túi quần bên phải sau đó cầm lấy chùm chìa khóa xe máy và đi ra khỏi nhà khóa cửa lại để chìa khóa nhà lại vị trí cũ, khi đi ra đến cổng nhà chị H, T bắt 20 còn gà giống bỏ vào chiếc bao xác rắn mang về nhà mình thả ở chuồng lợn, trên đường đi T làm rơi mất chùm chìa khóa xe máy đã lấy của gia đình chị H. T vào nhà lấy số tiền đã trộm cắp được ra kiểm tra thì thấy có 4.000.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 17 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng). T lấy ra 1.100.000đồng cho vào túi quần bên phải để chi tiêu, số tiền còn lại 2.900.000 đồng T cất vào túi quần và treo ở móc quần áo. Tổng giá trị tài sản mà T đã trộm cắp của gia đình chị Đào Thị H là 4.670.000đồng.

Cơ quan điều tra đã quản lý các tài sản, đồ vật gồm:

- Quản lý tại nhà chị Đào Thị H: 01chiếc chìa khóa và 01 chiếc khóa Việt Tiệp đã cũ, 01 khóa dây đã cũ (loại khóa ngang) và 01 áo khoác màu đỏ đã cũ

- Thu trên móc treo quần áo trong nhà T 01 quần trẻ em bằng vải màu vàng,trong có số tiền 2.900.000 đồng; Thu tại chuồng lợn nhà T 20 con gà giống; thu tại nóc tủ trong buồng nhà T 05 chiếc bông tai bằng kim loại, 02 chiếc màu trắng, 03 chiếc màu vàng (Đối với 05 chiếc bông tai trên, ngày 12/4/2017, Tổng công ty vàng Agribank Việt Nam đã có công văn số 32/AJC/ CV- KD trả lời 05 chiếc bông hoa tai trên không có vàng và bạc nên không có giá trị).

- Anh Đặng Văn T, sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã V, thành phố T tự giao nộp: 01 quạt điện (loại quạt tản gió) vỏ bằng nhựa màu trắng - xám, trên vỏ có dán tem ĐIỆN CƠ 91 - BỘ QUỐC PHÒNG, 01 máy bơm nước đã cũ, 01 nồi cơm điện nhãn hiệu FULCRUM đã cũ, 01 quạt điện loại treo tường nhãn hiệu CHINGHAI đã cũ.

- Anh Đặng Minh H, sinh năm 1967, trú tại thôn Đ, xã V, thành phố T tự giao nộp 01 ấm điện nhãn hiệu ĐẠT TƯỜNG đã cũ, 01 quạt cây nhãn hiệu điện cơ FUJIFAN đã cũ.

- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983, trú tại thôn Đ, xã V, thành phố T tự giao nộp: 01 vỏ bình gas bằng kim loại sơn màu xanh, nhãn hiệu VIỆT XÔ GAS đã cũ.

- Anh Đặng Văn H, sinh năm 1977, trú tại thôn Đ, xã V, thành phố T tự giao nộp: 01 đồng hồ tranh thêu chữ thập, khung gỗ kích thước 70x50cm, 02 bức tranh thêu chữ thập, khung gỗ kích thước 70x50cm.

- Đặng Xuân T tự giao nộp số tiền 625.000 đồng.

- Bà Vũ Thị P (mẹ đẻ T) tự giao nộp 01tivi nhãn hiệu KAIHONG 21inch đã cũ.

- Ông Đặng Danh T (bố đẻ T) tự giao nộp 475.000 đồng để khắc phục hậu quả cho T.

Quá trình điều tra, chị Đào Thị H còn khai ngoài số tài sản bị T chiếm đoạt trên, chị còn bị mất số tiền 30.000.000 đồng để ở khe đệm giường ngủ và 2,9 cây vàng 9999 để ở khe tường trong buồng ngủ của chị. Nhưng T không thừa nhận mình lấy số tiền 30.000.000 đồng và 2,9 cây vàng của chị Đào Thị H và không có tài liệu khác chứng minh T đã trộm cắp số tài sản trên. Chị H khai mất tiền, vàng nhưng không khẳng định là T đã trộm cắp và không yêu cầu T bồi thường số tài sản này. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không đủ căn cứ kết luận T trộm cắp số tiền, vàng như chị Đào Thị H khai nên không có căn cứ để xử lý.

Bản cáo tra ̣ng số 103/KSĐT ngày 30 tháng 5 năm 2017 của Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh truy tố bi ̣ cáo Đặng Xuân T về tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản”

̀ theo khoản 1 Điều 138 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.

̀

Ta ̣i phiên tòa, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh vẫn giữ

̀ nguyên quan điểm truy tố Đặng Xuân T về tô ̣i Trô ̣m cắp tài sản.

Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét

̀ xử áp du ̣ng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đề nghị xử phạt bị cáo mứ c án từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời ha ̣n tù tinh từ ngày bi ̣ tạm giữ 23/3/2017.

́

Về xử lý vật chứng và thu lợi bất chính: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát đề xuất, không có ý kiến gì.

Trướ c khi Hô ̣i đồng xét xử vào phòng nghi ̣ án, bi ̣ cáo trinh bày lờ i nói sau

̀ cùng: Bi ̣ cáo xin Hô ̣i đồng xét xử giảm nhe ̣ hinh pha ̣t cho bi ̣ cáo.

̀

̀

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ :

Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án, căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃

c thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy như sau:

Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Binh, Điều tra viên, Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh, Kiểm sát viên ̀

̀ trong quá trinh điều tra, truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng về thẩm quyền, trinh tự, thủ tu ̣c

̀

̀ quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự. Quá trinh điều tra và ta ̣i phiên tòa, bi ̣ cáo,

̀

̀

ngườ i bi ̣ ha ̣i và ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃

liên quan không ai có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng. Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣n đều hợp pháp.

Lờ i khai của bi ̣ cáo ta ̣i phiên tòa hôm nay như đã khai trước cơ quan điều tra phù hợp vớ i lờ i khai tại phiên tòa của ngườ i bi ̣ ha ̣i chị Đào Thị H và người có quyền lợi và nghiã vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, phù hợp lời khai ngườ i bi ̣ ha ̣i chị Đặng Thị H (BL số54-57) và lờ i khai ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃

liên quan anh Đặng Văn H (BL số 82-83), được chứng minh bằng biên bản ta ̣m giữ đồ vâ ̣t, tài liê ̣u (BL số 90 - 96); Biên bản đi ̣nh giá tài sản, bản kết luâ ̣n đi ̣nh giá tài sản (BL số 119, 121); cùng các tài liê ̣u, chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vu ̣ án.

Đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 23 ngày 11/3/2017, Đặng Xuân T đã lén lút vào nhà chị Đặng Thị H ở thôn Đ, xã V, thành phố T chiếm đoạt tài sản gồm: 01 ấm điện đun nước; 01nồi cơm điện,01quạt điện treo tường hiệu CHINGHAI, 01 quạt cây nhãn hiệu FUJIFAN; 01 tivi nhãn hiệu KAIHONG 21 inch; 01 đồng hồ tranh thêu chữ thập khung bằng gỗ, 02 bức tranh thêu chữ thập khung bằng gỗ; 01 chiếc vỏ bình gas bằng kim loại. Theo Kết luâ ̣n của Hô ̣i đồng đi ̣nh giá tài sản trong tố tu ̣ng hinh sự , trị tài sản là 2.580.000đồng. Ngoài ra, trưa ngày 22/3/2017, Đặng Xuân T ̀ đã lén lút vào nhà chị Đào Thị H ở thôn Đ, xã V, thành phố T chiếm đoạt tài sản gồm: 01 quạt tản gió nhãn hiệu Điện Cơ 91; 01 máy bơm nước đã cũ nhãn hiệu BAO XIANG PAI, 20 con gà giống và số tiền 4.000.000đồng cùng 01 túi nilon treo trên móc quần áotrong 05 chiếc bông hoa tai bằng kim loại (02 chiếc màu trắng, 03 chiếc màu vàng), trị giá tài sản là 4.670.000đồng. Tổng trị giá tài sản của những người bị hại mà bị cáo đã chiếm đoạt là 7.250.000đồng.

Bi ̣ cáo là ngườ i trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhâ ̣n thứ c và điều khiển hành vi của minh.

̀

Hành vi của bi ̣ cáo đủ yếu tố cấu thành tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản”, không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên bị xét xử ở khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, quy định như sau:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. …”

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội.

Về tinh tiết tăng nă ̣ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt với bị cáo:

̀

Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của hai chủ sở hữu khác nhau, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần, phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Song cũng xét, sau khi bị bắt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn đã được thu hồi trả lại cho người bị hại hạn chế hậu quả, gia đình đã tự nguyện nộp tiền để bồi thường cho người bị hại, khắc phục hậu quả, nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự là các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm g; p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Căn cứ tình chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử lên mức án trên mức khởi điểm khung hình phạt và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Đối với các anh Đặng Văn T, anh Đặng Minh H, chị Nguyễn Thị T, anh Đặng Văn H là những người đã mua tài sản của T nhưng không biết số tài sản trên do T trộm cắp được nên việc cơ quan điều tra không xử lý những người này là phù hợp. Anh Đặng Văn T, anh Đặng Minh H, chị Nguyễn Thị T, anh Đặng Văn H không yêu cầu T phải bồi thường số tiền họ đã bỏ ra để mua tài sản của T. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 730.000 đồng là tiền do bán tài sản phạm tội mà có để sung công quỹ Nhà nước.

Đối với tài sản(30.000.000đồng và 2,9 cây vàng 9999) chị Đào Thị H khai bị mất trộm. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa T đều không thừa nhận mình lấy số tiền và vàng trên của gia đình chị Đào Thị H. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không có căn cứ để xác định T trộm cắp số tiền và vàng trên, tại phiên tòa chị Đào Thị H không khẳng định T đã trộm cắp và không yêu cầu T bồi thường số tài sản này, nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có căn cứ xử lý sau là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Chấp nhận Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả la ̣i 01chiếc ấm điện đun nước nhãn hiệu ĐẠT TƯỜNG; 01chiếc nồi cơm điện nhãn hiệu FULCRUM; 01 chiếc quạt treo tường nhãn hiệu CHINGHAI; 01chiếc quạt cây nhãn hiệu FUJIFAN; 01 chiếc tivi nhãn hiệu KAIHONG 21inch; 01chiếc đồng hồ tranh thêu chữ thập; 02 bức tranh thêu chữ thập; 01 chiếc vỏ bình gas bằng kim loại nhãn hiệu VIỆT XÔ GAS cho chủ sở hữu là chị Đặng Thị H. Trả lại cho chị Đào Thị Hương 01quạt tản gió nhãn hiệu Điện Cơ 9, 01máy bơm nước đã cũ nhãn hiệu BAO XIANG PAI, 20 còn gà giống, và số tiền 4.000.000 đồng; trả lại cho cháu Trần Thị M (con gái chị Đào Thị H) 05 chiếc bông tai bằng kim loại. Chị Đặng Thị H, chị Đào Thị H và cháu Trần Thị M đã nhận đủ số tài sản của mình và không có yêu cầu gì khác.

- Đối với số vật chứng quản lý tại nhà chị Đào Thị H gồm: 01 chiếc khóa Việt-Tiệp đã cũ; 01 khóa dây đã cũ, 01 chiếc chìa khóa Việt-Tiệp đã cũ, 01 áo khoác màu đỏ (loại áo gió) đã qua sử dụng và thu tại nhà T 01 quần trẻ em bằng vải màu vàng. Tại phiên tòa chị Đào Thị H và T không yêu cầu nhận lại và không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Về án phi: Bi ̣ cáo phải chi ̣u án phi hinh sự sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

́

́ ̀

Bi ̣ cáo, ngườ i bi ̣ ha ̣i và những ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃

liên quan có quyền kháng cáo trong thờ i ha ̣n luâ ̣t đi ̣nh.

Vi các le trên,̃

̀

́

QUYÊT ĐI ̣NH

1. Tuyên bố : Bi ̣ cáo Đặng Xuân T pha ̣m tô ̣i “Trộm cắp tà i sản”.

2. Hinh pha ̣t: Á p du ̣ng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều

̀ 46; điểm g khoản 1Điều 48; Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999

Xử pha ̣t bi ̣ cáo Đặng Xuân T 09 (chín) tháng tù. Thờ i ha ̣n chấp hành hình phạt tù tinh từ ngày bi ̣ bắt tạm giữ 23/3/2017.

́

3. Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Á p du ̣ng Điều 41 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự và Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t

̀ tố tu ̣ng hinh sự;

̀

- Chấp nhận Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình đã trả la ̣i tài sản bị chiếm đoạt gồm: 01 chiếc ấm điện đun nước, 01chiếc nồi cơm điện; 01 chiếc quạt treo tường; 01 chiếc quạt cây; 01 chiếc tivi 21inch; 01chiếc đồng hồ tranh thêu; 02 bức tranh thêu và 01vỏ bình gas cho chủ sở hữu là chị Đặng Thị H. Trả lại cho chị Đào Thị H: 01quạt tản gió; 01máy bơm nước; 20 còn gà giống và số tiền 4.000.000đồng và trả lại cho cháu Trần Thị M (con gái chị Đào Thị H) 05 chiếc bông tai bằng kim loại. Chị Đặng Thị H, chị Đào Thị H và cháu Trần Thị M đã nhận đủ số tài sản của mình và không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.

- Tịch thu 01chiếc khóa Việt-Tiệp đã cũ; 01 khóa dây đã cũ, 01 chiếc chìa khóa Việt-Tiệp đã cũ, 01áo khoác màu đỏ(loại áo gió) đã qua sử dụng và 01 quần trẻ em bằng vải màu vàng (như biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2017 tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình) để tiêu hủy.

- Buộc bị cáo Đặng Xuân T phải nộp lại số tiền 730.000đồng (tiền do bán tài sản phạm tội mà có) để sung công quỹ Nhà nước.

4. Về á n phi: Á p du ̣ng Điều 99 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự; Nghị quyết số

́

̀ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bi ̣ cáo Đặng Xuân T phải nộp 200.000 đồng án phi hinh sự sơ thẩm.

́ ̀

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bi ̣ cáo, người bị hại(chị ĐàoThị H) và những ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm13/7/2017. Người bị hại(chị Đặng Thị H) và ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣

̃ liên quan vắng mă ̣t có quyền kháng cáo trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày được tống đa ̣t hợp lê ̣ bản án./.

̀

̉ Nơi nhâ ̣n:

Cỡ chữ