- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá H, Nguyễn Trọng T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma…"
- Tòa quyết gì? Tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2025/HS-ST Ngày: 22- 9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Quyết Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Nga và bà Nguyễn Ngọc Cúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Ngọc Thúy - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Trần Phú Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường xét xử số 02, tại điểm cầu trung tâm là phòng xét xử số 2, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai và điểm cầu thành phần tại Trại giam S công an tỉnh Đ, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 75/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Bá H, sinh năm 1997 tại Nghệ An. Nơi đăng ký thường trú: Xã L, tỉnh Nghệ An (địa chỉ cũ: Xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An). Nơi ở hiện nay: Ấp N, xã H, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai). Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Bá T, sinh năm 1959 (còn sống) và bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1962 (còn sống); Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 28/01/2025, hiện đang tạm giam tại trại giam S Công an tỉnh Đ.
2. Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1993 tại tỉnh Nghệ An. Nơi đăng ký thường trú: Xã L, tỉnh Nghệ An (địa chỉ cũ: Xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An). Nơi ở hiện nay: Phường D, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ cũ: Khu phố N, thành phố D, tỉnh Bình Dương). Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trọng B, sinh năm 1962 (còn sống) và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1966 (còn sống); Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo chưa có vợ con.
Bị cáo bị bắt ngày 28/01/2025, hiện đang tạm giam tại trại giam S Công an tỉnh Đ.
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần là phòng xét xử trực tuyến đặt tại Trại giam S Công an tỉnh Đ.
Có sự tham gia giám sát, bảo vệ của các cán bộ, chiến sỹ của Trại giam S Công an tỉnh Đ gồm các ông:
1. Trung tá Hàng Minh H3.
2. Binh nhất Nguyễn Gia C.
3. Binh nhất Hoàng Phi L.
(các bị cáo có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/01/2025 Nguyễn Trọng T1 điện thoại cho Nguyễn Bá H đòi tiền mà H có nợ của T1 trước đó nên H hẹn gặp T1 ở trước cổng trường tiểu học N1 tại xã T, huyện T (nay là xã H, tỉnh Đồng Nai). Đến Khoảng 17 giờ cùng ngày T1 cùng với Nguyễn Cao T2 đến chỗ hẹn gặp H thì được H rủ T1 và T2 đến quán B1 tại ấp N, xã T, huyện T (nay là xã H, tỉnh Đồng Nai) ngồi uống nước nói chuyện. Tại đây H rủ T1 làm mấy khói cho tỉnh rượu không (ý nói sử dụng ma túy đá cho tỉnh rượu) thì T1 đồng ý. Lúc này, H nói T1 đăng nhập tài khoản zalo của T1 vào điện thoại của H (mục đích mượn tài khoản zalo của T1) để liên lạc với nam thanh niên tên H4 (thường gọi là Hùng N không rõ họ tên thật, địa chỉ) đặt mua 01 (gói) ma túy với số tiền 500.000 đồng. H4 đồng ý và hẹn bán ma túy ở khu công nghiệp T. H có sẵn 200.000 đồng nên nói T1 đưa thêm 300.000 đồng (để đủ số tiền 500.000 đồng) mua ma túy thì được T1 đồng ý. H sử dụng xe mô tô biển số 37M2- 3982 của T1 chở T1 đến khu công nghiệp thuộc xã A, huyện L (nay là xã A, tỉnh Đồng Nai). Đến nơi, H đưa số tiền 200.000 đồng của H cho T1 cầm để trả tiền mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, T1 đưa gói ma túy cho H cầm trên tay trái rồi chạy xe quay về xã T, huyện T (nay là xã H, tỉnh Đồng Nai) gặp T2. H và T1 rủ T2 đến nhà nghỉ H5 thuộc ấp N, xã T (nay là xã H) thuê phòng để sử dụng ma túy, do H không mang theo thẻ căn cước công dân nên chủ nhà nghỉ không cho thuê, H quay về nhà lấy thẻ căn cước, đồng thời cầm theo 01 nỏ thủy tinh để sử dụng ma túy. Sau khi thuê được phòng cả ba đi vào trong phòng số 11, H lấy chìa khóa đục 02 lỗ trên nắp chai nhựa để làm dụng cụ sử dụng ma túy, H cho hết ma túy trong gói nylon vào nỏ thủy tinh rồi nói T1 và T2 lại chỗ bàn gỗ ngồi cùng sử dụng. Khi sử dụng ma túy thì H ngồi ở ghế gỗ gần cửa ra vào, T2 ngồi ở ghế bên trong, còn T1 đứng giữa 02 người và lần lượt thay nhau tự cầm đốt ma túy trong nỏ thủy tinh để sử dụng, khi mỗi người sử dụng được 02 hơi ma túy thì H quay lại quán tiếp tục chơi bi da, còn T1 và T2 tiếp tục ở lại nhà nghỉ H5 sử dụng ma túy. Đến 00 giờ 10 phút ngày 28/01/2025 thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ T1 và T2, thu giữ bộ dụng cụ sử dụng ma túy, trong nỏ thủy tinh còn bám dính chất ma túy màu xám đen. Sau đó, H được Công an xã T mời về làm việc và khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân như trên.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) nỏ thủy tinh bên trong còn bám dính chất màu xám đen;
- 01 (một) chai nhựa có nắp chai màu xanh, gắn 01 (một) ống hút màu trắng;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ, số thuê bao 0342618268 của T2;
- 01 (một) xe mô tô biển số 37M2-3982 của T1;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi màu đen, số thuê bao 0834531136 của H.
Tại Kết luận giám định số 236/KL-KTHS ngày 05/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu chất màu xám đen bám trong nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKS-KV3 ngày 03/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Bá H, Nguyễn Trọng T1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Xử phạt bị cáo H từ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Xử phạt bị cáo T1 từ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Vật chứng vụ án và xử lý vật chứng:
- Đề nghị Tòa án tuyên tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong sau giám định số: 236/KL-KTHS ngày 05/02/2025 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ và 01 (một) chai nhựa có nắp chai màu xanh, gắn 01 (một) ống hút màu trắng.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi màu đen, số thuê bao: 0834531136 là công cụ, phương tiện phạm tội. Đề nghị Tòa án tuyên tịch thu sung công.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ, số thuê bao: 0342618268. Qua kiểm tra xác định của Cao Minh T3 mua và sử dụng nhưng không sử dụng vào mục đích phạm tội. Đề nghị Tòa án tuyên trả lại cho T3.
- Đối với 01 (một) xe môtô hiệu Honda Wave, biển số 37M2-3982, số máy HC12E2559337, số khung RLHHC1202AY058238 qua xác minh anh Bùi Khắc T4 đứng tên chủ sở hữu, khi cho T1 mượn anh T4 không biết T1 sử dụng vào việc phạm tội. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho anh T4 và anh T4 đã nhận lại xe này nên đề nghị Tòa án không xem xét.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
1.1. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.
. Về tội danh và hình phạt:
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 27/01/2025, tại phòng số 11 thuộc nhà nghỉ H5, địa chỉ tại: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã H, tỉnh Đồng Nai) Nguyễn Bá H và Nguyễn Trọng T1 đã cùng nhau góp tiền mua ma túy loại Ketamine, thuê nhà nghỉ để cùng nhau sử dụng và cho Cao Minh T3 cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy, bị cáo Nguyễn Bá H và Nguyễn Trọng T1 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội danh như đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định thuộc chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước nên cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù có thời hạn với mức đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, sống tôn trọng pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Tính chất mức độ hành vi của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn. Trong đó Bị cáo H là người rủ bị cáo T1 sử dụng ma túy. H, T1 cùng có hành vi góp tiền đi mua ma túy và rủ T3 sử dụng ma túy. Do đó khi lượng hình cần xem xét hình phạt của bị cáo H, bị cáo T1 bằng nhau.
. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.
. Đối với Cao Minh T3 là người tham gia sử dụng ma túy nhưng không đồng phạm với H và T1 về tội tổ chức sử dụng ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính Phủ là phù hợp quy định pháp luật.
. Đối với đối tượng tên H4 bán ma túy cho bị cáo H và T1 (không rõ nhân thân lai lịch) Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.
. Đối với bà Hoàng Thị Thanh L1 (chủ nhà nghỉ H5), khi cho H và T1 thuê phòng, bà L1 không biết H và T1 thuê phòng để sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không xử lý.
. Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 (một) phong bì niêm phong sau giám định số: 236/KL-KTHS ngày 05/02/2025 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ và 01 (một) chai nhựa có nắp chai màu xanh, gắn 01 (một) ống hút màu trắng sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi màu đen, kèm sim có seri 89840200011498705498 là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ, kèm theo sim số seri 8401201151513404 của anh Cao Minh T3. Qua kiểm tra xác định của anh Cao Minh T3 mua và sử dụng nhưng không sử dụng vào mục đích phạm tội cần tuyên trả lại cho T3.
+ Đối với 01 (một) xe môtô hiệu Honda Wave, biển số 37M2-3982, số máy HC12E2559337, số khung RLHHC1202AY058238 qua xác minh anh Bùi Khắc T4 đứng tên chủ sở hữu, khi cho T1 mượn anh T4 không biết T1 sử dụng vào việc phạm tội nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho anh T4 và anh T4 đã nhận lại xe này ngày 06/9/2025 là phù hợp quy định pháp luật.
. Về án phí: Do bị cáo H, T1 phạm tội nên các bị cáo mỗi người phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá H, Nguyễn Trọng T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá H: 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng. Thời hạn tù được tính từ ngày 28 tháng 01 năm 2025.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T1: 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng. Thời hạn tù được tính từ ngày 28 tháng 01 năm 2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong sau giám định số 236/KL-KTHS ngày 05/02/2025 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chai nhựa có nắp chai màu xanh, gắn 01 (một) ống hút màu trắng;
- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi màu đen, kèm sim có seri 89840200011498705498.
- Tuyên trả 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ, kèm theo sim số seri 8401201151513404 cho anh Cao Minh T3.
(Các vật chứng, tài sản này đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ chuyển giao cho Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/9/2025).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Bá H, Nguyễn Trọng T1 mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - VKSND khu vực 3- Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Quyết Tâm |