- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Doãn Ch buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Doãn Ch, sửa bản án hình sự sơ thẩm 16/2023/HS-ST ngày 13/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh đối với bị cáo Lê Doãn Ch.
- Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2023/HS-PT Ngày: 17-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Trương Thị Lệ Thu
- Các Thẩm phán: Ông Trần Khắc Hoàng, bà Trần Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Cẩm Vân - Thư ký TAND tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 17/7/2023, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 74/2023/HSPT ngày 23 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Lê Doãn Ch do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 16/2023/HS-ST ngày 13/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Bị cáo kháng cáo:
Lê Doãn Ch, tên gọi khác: Không, sinh ngày 22/ 12/ 2003, tại xã Mai Ph, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh;
Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đông V, xã Mai Ph, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; Trình độ văn hóa: 10/12; con ông Lê Văn Th, sinh năm 1959, con bà Lê Thị Ch, sinh năm 1967; Vợ, con: chưa có; anh chị em ruột có 4 người, bị cáo là con thứ tư; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 30/4/2018, bị Công an huyện Lộc H xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2022, đến ngày 12/01/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh, hiện tại ngoại tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng giữa tháng 11 năm 2022, Lê Doãn Ch gọi điện cho Lê Xuân Tr nhờ Tr mua giúp 07 hộp pháo loại 49 quả với mục đích về cất giấu bán lại trong dịp Tết Nguyên đán để kiếm lời. Tr tìm hiểu xin được số điện thoại của một người bán pháo nên gọi điện hỏi mua pháo thì người đó nói giá là 850.000đ/1 hộp loại 49 quả. Sau khi tìm được người bán pháo, Tr gọi điện thoại nói với Ch, Ch đồng ý mua 07 hộp pháo loại 49 quả với giá 850.000đ/1 hộp. Sau đó, Ch chuyển cho Tr số tiền 5.950.000 đồng. Nhận được tiền của Ch, Tr liên lạc với người bán pháo và hai người hẹn nhau đến khu vực trung tâm hành chính thị xã Phước L để giao nhận pháo. Sau khi mua được pháo, Tr đưa ra đón xe khách tuyến Bắc Nam gửi pháo về địa chỉ tại ngã ba Thạch L, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh theo hướng dẫn của Ch. Ch nhận được pháo thì gọi điện cho Tr, bảo Tr xóa hết các thông tin dữ liệu có liên quan đến việc mua bán pháo giữa Tr và Ch. Ch mang số pháo trên về cất giấu trong nhà kho của gia đình nhưng không nói cho ai biết. Ch lấy một hộp ra nổ thử thì thấy tốt nên có ý định nhờ Tr mua tiếp.
Khoảng 10 ngày sau, Ch tiếp tục gọi điện thoại nhờ Tr mua thêm 6 hộp pháo loại 49 quả. Việc mua, vận chuyển pháo lần này cũng giống như lần trước nhưng lần này giá pháo là 900.000đ/1 hộp, Tr báo lại cho Ch nội dung trên, Ch đồng ý mua và chuyển cho Tr số tiền 5.500.000đ. Sau khi nhận được 6 hộp pháo, Ch mang về cất giấu chung với số pháo lần trước. Tổng số pháo hai lần Ch nhờ Tr mua hộ là 13 hộp pháo loại 49 quả với số tiền là 11.350.000 đồng, nhưng Ch đã chuyển cho Tr số tiền 11.450.00 đồng.
Trong số 13 hộp pháo, Ch đã đốt thử 01 hộp và có 04 hộp bị ướt nước không dùng được nên Ch đã vứt đi. Đến ngày 11/12/2022, có một người đàn ông gọi điện thoại cho Ch hỏi mua 8 hộp pháo loại 49 quả, Ch đồng ý và bán với giá 1.600.000đ/1 hộp. Ch điều khiển xe mô tô BKS 38L1-261.27 chở số pháo trên đến khu vực thôn Thanh Tân, xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà để bán pháo. Khi Ch chưa giao được pháo cho người mua thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Quá trình điều tra, Lê Doãn Ch còn khai nhận: vào khoảng tháng 11 đến đầu tháng 12 năm 2022, Ch đã mua của Lê Thanh Th 04 lần, 24 hộp pháo loại 36 quả và 01 hộp pháo loại 49 quả với tổng số tiền là 25.400.000 đồng. Th cho Ch 200.000 đồng, Ch đã bán lại cho người khác và thu lợi tổng số tiền 4.400.000đ. Tuy nhiên quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không thu giữ được pháo liên quan đến các lần mua bán trên do đó không có căn cứ để xử lý đối với Lê Doãn Ch và Lê Thanh Thiệu về những lần mua bán này.
Vật chứng thu giữ gồm: 08 hộp hình khối kích thước mỗi hộp (17,5 x 17,5 x 10)cm; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 5G; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng, BKS 38L1-261.27, thu của Lê Doãn Ch; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lê Doãn Tuấn giao nộp 01 hộp hình khối kích thước (17,5 x 17,5 x 10)cm.
Toàn bộ số vật chứng nêu trên được chuyển đến Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Lộc H để xử lý theo pháp luật.
Bản kết luận giám định số 1142/KL-KTHS ngày 15/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận:
09 hộp hình khối kích thước (17,5x17,5x10)cm, võ hộp là giấy bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 14,64 kg (Sau khi trừ mẫu giám định còn lại là 14,44 kg)
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2023/HS-ST ngày 13/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lộc H, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Lê Doãn Ch và Lê Xuân Tr phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Doãn Ch 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày12/12/2022, đến ngày 12/01/2023.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Xuân Tr15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Xuân Trcho UBND phường Long Ph, thị xã Phước L, tỉnh Bình Phước và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Áp dụng khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự, xử phạt bổ sung Lê Doãn Ch và Lê Xuân Tr, mỗi bị cáo số tiền 25.000.000 đồng (Hai lăm triệu đồng).
Ngoài ra, án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, ngày 14/4/2023, bị cáo Lê Doãn Ch kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không yêu cầu làm rõ thêm tình tiết gì của vụ án, đồng ý với tội danh mà Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm bị cáo hoàn toàn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp vời thời gian, địa điểm phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Thời gian vào khoảng tháng 11/2022, Lê Doãn Ch đã có hành vi nhờ Trần Xuân Tr mua hộ 13 hộp pháo, mục đích là về bán kiếm lời. Lê Doãn Ch mua 07 hộp pháo lần đầu với giá 850.000 đồng/hộp; lần hai mua 06 hộp với giá là 900.000 đồng/hộp và thỏa thuận bán ra với giá là 1.600.000 đồng/hộp. Trên đường đưa pháo đi giao cho người mua thì bị phát hiện, bắt quả tang. Như vậy hành vi mua bán pháo nổ là mặt hàng cấm của Lê Doãn Ch đã rõ ràng. Số pháo thu giữ được là 09 hộp. Toàn bộ số pháo thu giữ đã được Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh xác định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, có tổng khối lượng là 14,64kg. Lê Xuân Trbiết rằng Lê Doãn Ch mua pháo nổ về bán để kiếm lời là vi phạm pháp luật nhưng vẫn mua hộ cho Lê Doãn Ch, như vậy xác định Lê Xuân Trlà đồng phạm trong vụ án với vai trò giúp sức.
Lê Doãn Ch và Lê Xuân Tr là những người có đầy đủ năng lực hành vi; biết hành vi buôn bán pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên vẫn cố tình thực hiện. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp và đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước. Vì vậy cấp sơ thẩm có đủ cơ sở khẳng định Lê Doãn Ch và Lê Xuân Trphạm tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.
Xét nội dung kháng cáo yêu cầu xem xét cho được hưởng treo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo Lê Doãn Ch: Là người chủ mưu, cầm đầu trong vụ án. Theo lời khai của bị cáo thì bị cáo đã nhiều lần mua pháo của nhiều người để bán lại kiếm lời. Mặc dù không có căn cứ để khởi tố về hành vi mua bán pháo trước đó nhưng qua đây thể hiện hành vi của bị cáo là coi thường pháp luật. Tuy nhiên xét thấy quá trình xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải, không có tình tiết tăng nặng; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuổi đời còn trẻ nên cần tạo điều kiện cho bị cáo được lao động, rèn luyện để trở thành người có ích cho xã hội.
Trước thời điểm mở phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã chủ động khắc phục toàn bộ số tiền phần hình phạt bổ sung là 25.000.000đ. Chính quyền địa phương xã Mai Phụ, huyện Lộc Hà nơi bị cáo cư trú xác nhận: bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ già yếu, bản thân bị cáo sức khỏe cũng không tốt phải thường xuyên đến bệnh viện để kiểm tra. Vì vậy, HĐXX xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo. Tạo điều kiện để bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương, tiếp tục rèn luyện lao động nhằm thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 09 hộp hình khối kích thước (17,5x17,5x10)cm, võ hộp là giấy bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài có khối lượng 14,64 kg (Sau khi trừ mẫu giám định còn lại là 14,44 kg).
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 5G; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng, BKS 38L1-261.27 và số tiền 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm ngàn đồng).
(Số lượng, hình dáng, đặc điểm, tính chất của vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/3/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Hà).
Về án phí: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí HSPT theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật TTHS, xử:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Doãn Ch, sửa bản án hình sự sơ thẩm 16/2023/HS-ST ngày 13/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh đối với bị cáo Lê Doãn Ch.
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Doãn Ch phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
[2] Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Doãn Ch 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm
Giao bị cáo Lê Doãn Ch cho UBND xã Mai Ph, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Tr hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Tr hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 190, Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Doãn Ch 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng). Nhưng được khấu trừ 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) bị cáo đã khắc phục tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Hà, theo các biên lai số 0007550 ngày 07/7/2023 và 0012355 ngày 14/7/2023.
[3] Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 09 hộp hình khối kích thước (17,5x17,5x10)cm, võ hộp là giấy bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài có khối lượng 14,64 kg (Sau khi trừ mẫu giám định còn lại là 14,44 kg).
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 5G; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng, BKS 38L1-261.27 và số tiền 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm ngàn đồng).
(Số lượng, hình dáng, đặc điểm, tính chất của vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/3/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Hà).
[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - Phòng PV 06 CA tỉnh Hà Tĩnh; - CA,VKS, TAND huyện Lộc Hà; - Chi cục THADS huyện Lộc Hà; - UBND xã Mai Phụ, huyện Lộc Hà - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; Văn thư, Lưu trữ. phạt bị cáo Lê Doãn Ch 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng). Nhưng được khấu trừ 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) bị cáo đã khắc phục tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Hà, theo các biên lai số 0007550 ngày 07/7/2023 và 0012355 ngày 14/7/2023. 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: giấy bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài có khối lượng 14,64 kg (Sau khi trừ mẫu giám định còn lại là 14,44 kg). 261.27 và số tiền 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm ngàn đồng). vật chứng ngày 07/3/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Hà). 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC THẨM PHÁN Trần Khắc Hoàng Trần Thị Thu Hiền | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Lệ Thu Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 190, Điều 35 Bộ luật hình sự xử [3] Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản Tịch thu, tiêu hủy: 09 hộp hình khối kích thước (17,5x17,5x10)cm, võ hộp là Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 5G; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng, BKS 38L1- (Số lượng, hình dáng, đặc điểm, tính chất của vật chứng như biên bản giao nhận [4]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết [5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Lệ Thu |