vanban.org

Bản án 107/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04 tháng 8 năm 2022. Về tang vật của vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2022/HS-ST
Ngày 18-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Long G;

Ông Huỳnh Thanh Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng G - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo.

Nguyễn Thị G, sinh năm 1998 tại An G; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp An M, xã Mỹ P, huyện Châu P, tỉnh A G; tạm trú: ấp Cầu Sắt, xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Ch; có 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 04 tháng 8 năm 2022 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị G là đối tượng sử dụng ma túy tổng hợp từ năm 2021 đến nay. Ngày 16 tháng 6 năm 2022, Nguyễn Thị G liên lạc với một đối tượng tên Liêm (chưa rõ họ tên, địa chỉ) mua 1.200.000 đồng ma túy tổng hợp và được Liêm bán cho một gói ma túy tại căn kiot do G thuê tại ấp Cầu Sắt, xã Lai Hưng. Sau khi mua được ma túy, G lấy ra một ít đổ vào bộ dụng cụ sử dụng. Phần ma túy còn lại để trong một gói nilon miệng kéo dính và cất dấu trong khay kim loại (dụng cụ dùng để hấp đồ ăn) để trên khu vực bếp trong kiot. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, G bị lực lượng Công an huyện Bàu Bàng kiểm tra hành chính phát hiện tàng trữ trái phép chất ma túy nên Công an huyện Bàu Bàng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ: 01 (một) gói nilon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) bộ dụng cụ gồm (01 lọ nhựa, 01 ống hút nhựa và 01 ống thủy tinh); 01 (một) bình gas mini; 01 (một) hộp quẹt đầu gắn kim loại (dùng để khò hút ma túy); 01 (một) hộp quẹt gas; 01 (một) đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu.

Theo bản kết luận giám định số 278/MT-PC09 ngày 24 tháng 6 năm 2022 kết luận mẫu tinh thể trắng gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 3,8905 gam. Hoàn lại sau giám định: 3,8054 gam.

Đối với người tên Liêm, bị cáo G không cung cấp được thông tin cụ thể, cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiến hành xác minh, có kết quả sẽ xử lý sau.

Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 87/CTVKSBB ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thị G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G với mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 278/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong Quyết định trưng cầu giám định số 94 ngày 16 tháng 06 năm 2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương), có dấu chữ ký, hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Thị G; Trần Hoàng Huy (bên giao mẫu), Phạm Văn Lợi (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương, khối lượng mẫu niêm phong: M = 3,8054 gam (Methamphetamine); 01 (một) bộ dụng cụ gồm: 01 (một) lọ nhựa, 01 (một) ống hút nhựa và 01 (một) ống thủy tinh; 01 (một) bình gas mini; 01 (một) hộp quẹt đầu gắn kim loại (dùng để khò hút ma túy); 01 (một) hộp quẹt gas; 01 (một) đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật. Bị cáo rất ăn năn và hối hận, bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước và pháp luật để bị cáo có cơ hội sớm được trở về hòa nhập với xã hội lo cho con bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị G đã thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ thu giữ trong vụ án, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, bị cáo có hành vi đã tàng trữ trong một gói nylon miệng kéo dính chứa ma túy có trọng lượng 3,8054 gam mục đích là để sử dụng. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét thấy, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo G là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Đồng thời, xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây hệ quả xấu cho con người, là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội và các loại tội phạm khác. Về nhận thức, bị cáo biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trái quy định của pháp luật nhưng để thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng: đối với các vật chứng gồm: 01 (một) bộ dụng cụ gồm 01 (một) lọ nhựa, 01 (một) ống hút nhựa và 01 (một) ống thủy tinh; 01 (một) bình gas mini; 01 (một) hộp quẹt đầu gắn kim loại (dùng để khò hút ma túy); 01 (một) hộp quẹt gas; 01 (một) đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu là dụng cụ bị cáo sử dụng ma túy và mẫu vật sau giám định 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 278/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong Quyết định trưng cầu giám định số 94 ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương), có dấu chữ ký, hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Thị G; Trần Hoàng Huy (bên giao mẫu), Phạm Văn Lợi (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương, khối lượng mẫu niêm phong: M = 3,8054 gam (Methamphetamine) là vật cấm tàng trữ, lưu hành không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ các Điều 99, 106, 292, 293 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04 tháng 8 năm 2022.

2. Về tang vật của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ dụng cụ gồm: 01 (một) lọ nhựa, 01 (một) ống hút nhựa và 01 (một) ống thủy tinh; 01 (một) bình gas mini; 01 (một) hộp quẹt đầu gắn kim loại (dùng để khò hút ma túy); 01 (một) hộp quẹt gas; 01 (một) đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu là dụng cụ bị cáo sử dụng ma túy và mẫu vật sau giám định 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 278/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 94 ngày 16 tháng 06 năm 2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương có dấu chữ ký, hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Thị G; Trần Hoàng Huy (bên giao mẫu), Phạm Văn Lợi (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương, khối lượng mẫu niêm phong: M = 3,8054 gam (Methamphetamine).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị G phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ