- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Trường Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật hình sự giảm nhẹ; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2017/HSST Ngày: 16/6/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Hữu Tường
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà– Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đ diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tĩnh – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2017/TLST-HS, ngày 25/5/2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2017/HSST-QĐ ngày 30/5/2017, đối với bị cáo:
Võ Trường Đ , Sinh ngày 22/8/1994; Giới tính: Nam; Tại: TP. Hồ Chí Minh; Nơi ĐKNKTT: A, đường Trần Khắc C, phường Tân Đ, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: A, tổ 10, khu phố 3A, phường Th, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Nguyên là Thợ thạch cao; Họ tên Cha: Võ Văn Th (Chết); Họ tên Mẹ: Trần Thị Tuyết Ng; Hoàn cảnh gia đình: có Vợ tên Trần Phan Đan T, chưa có con; Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Ngày 28/12/2010 công an phường Tân Định, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
+ Tiền án: Bản án số 225/2013/HSST ngày 20/11/2013, bị Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” thời gian thử thách là 03 năm, tính từ ngày tuyên án 20/11/2013.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2017 (Có mặt).
*Người bị hại: Chị Huỳnh Thị Kiều M , sinh năm 1996 .
Thường trú: A, ấp 5, xã Long H, huyện Cần Đ, tỉnh Long An
Chỗ ở: A, tổ 10, khu phố A, phường Thạnh L, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt- vắng mặt).
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Văn D , sinh năm 1982
Trú tại: A, đường Bùi Đình T, phường 24, quận Bình Th, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt- vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 17/03/2017, do trời mưa nên Võ Trường Đ lấy quần áo của chị Huỳnh Thị Kiều M , sinh năm 1996 và móc vào cửa sổ phòng trọ của chị My. Lúc này, Đ thấy phòng trọ của chị My (phòng số 108) nhà trọ số 154A, Hà Huy Giáp, tổ 10, khu phố 5A, phường Thạnh Lộc, Quận 12, không có ai, cửa ra vào phòng bị khóa lại nhưng cửa sổ thì mở, Đ nhìn vào trong cửa sổ thì thấy có 01 chiếc Laptop hiệu HP 14, đang để trên bàn sát cửa sổ. Lúc này, Đ nảy sinh ý định trộm cắp chiếc Laptop để bán lấy tiền tiêu xài. Lát sau, Đ dùng tay luồn qua khe ngăn của cửa sổ lấy chiếc Laptop mang về phòng trọ của mình và bỏ chiếc laptop vào chiếc cặp đi học rồi điều khiển xe môtô đến cửa hàng mua bán điện thoại di động “An Thông” địa chỉ số 45 đường Đinh Bộ Lĩnh, Phường 24, quận Bình Thạnh. Khi đến cửa hàng Đ gặp anh Đoàn Văn D , là chủ cửa hàng. Sau khi xem xong anh D đồng ý mua chiếc Laptop trên với giá 1.400.000 đồng. Sau đó anh D bán lại chiếc laptop này cho một thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 1.600.000 đồng.
Đến ngày 18/3/2017 Công an phường Thạnh Lộc, Quận 12 đến mời Đ về trụ sở Công an lập hồ sơ xử lý.
Tại Cơ quan điều tra Võ Trường Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án như trên.
Đối với anh Đoàn Văn D là người mua máy tính của Đ nhưng anh D không biết tài sản trên do Đ phạm tội mà có nên không có cơ sở để xử lý hình sự.
Vật chứng vụ án:
- Tiền Việt Nam 1.600.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận 12 số 116/KLĐG ngày 22/3/2017, chiếc máy tính hiệu HP 14 có giá 3.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 118/CTr-VKS, ngày 24/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố bị cáo Võ Trường Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Võ Trường Đ khai nhận hành vi trộm cắp tài sản là chiếc máy tính hiệu HP 14. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai đã khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Đ diện Viện kiểm sát nhân dân quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo; sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: Bị cáo Võ Trường Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo với mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù;
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật vì bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải, bị cáo động viên gia đình bồi thường và người bị hại đã làm đơn bãi nại, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Lợi dụng sự sơ hở của chị Huỳnh Thị Kiều M , Võ Trường Đ luồn tay qua khe cửa sổ phòng trọ lấy trộm chiếc laptop hiệu HP 14, rồi mang đi bán. Hành vi nêu trên của Võ Trường Đ đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, tội phạm được quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an địa phương.
Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Theo kết luâ ̣n định giá tài sản số 116/KLĐG ngày 22/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 12, chiếc máy tính hiệu HP 14 có giá 3.000.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo còn có một tiền án về tội trộm cắp tài sản và nhân thân xấu về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48; khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự xét xử bị cáo Võ Trường Đ về tội Trộm cắp tài sản như cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố là có căn cứ, đúng luật.
Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục bị cáo thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời làm gương cho những người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét tình tiết, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; động viên gia đình bồi thường cho người bị hại, được người bị hại làm đơn bãi nại để áp dụng điểm b, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về các vấn đề khác:
Đối với Đoàn Văn D không có cơ sở để xử lý hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận được bồi thường và không yêu cầu bồi thường thêm. Hội đồng xét xử chấp nhận và không xem xét nữa.
Đối với số tiền thu giữ của Đoàn Văn D , không liên qua đến vụ án, cần trả lại.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Võ Trường Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm b, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Võ Trường Đ : 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2017.
Căn cứ Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho Đoàn Văn D 1.600.000 đồng;
(Theo lệnh nhập kho vật chứng số 150/17/LNK, ngày 22/3/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh)
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; (01) - VKSND Quâ ̣n 12; (02) - THADS Quâ ̣n 12; (02) - Phòng PC27 CA Tp. HCM; (01) - Công an Quâ ̣n 12; (02) - UBND nơi bị cáo cư trú; (01) - Bị cáo; (01) - Người tham gia tố tụng khác; (01) - Lưu hồ sơ vụ án. T 16/. (05) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Văn Nhất |