vanban.org

Bản án 106/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 14/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "chin - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2026/HS-ST
Ngày: 14 - 8 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – GIA LAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Chánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thu Thảo

2. Ông Phạm Văn Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Vân là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Thoại - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2026/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 381/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2026, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/6/1984 tại xã T, tỉnh Gia Lai. CCCD: 052084013719 cấp ngày 21/01/2025. Nơi cư trú: Thôn N, xã T, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Bửu P, sinh năm 1938 và bà Đỗ Thị N, sinh năm 1943 (chết); A, chị, em ruột: 06 người; Vợ: Lê Thị T, sinh năm 1989 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 16/5/2011, Nguyễn Văn C bị Công an huyện T, tỉnh Bình Định (cũ) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “đánh bạc”. Ngày 19/5/2011 đã nộp phạt xong.

- Bản án hình sự phúc thẩm số: 68/2013/HSPT ngày 18/4/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định (cũ) tuyên phạt Nguyễn Văn C 03 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 09/02/2015 chấp hành xong hình phạt tù. Đã được xóa án tích.

- Ngày 25/4/2022, Nguyễn Văn C bị Công an huyện T, tỉnh Bình Định (cũ) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “xâm hại đến sức khỏe của người khác". Ngày 16/5/2022, đã nộp phạt xong.

- Ngày 22/02/2023, Nguyễn Văn C bị Công an huyện T, tỉnh Bình Định (cũ) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “giúp sức đánh nhau gây thương tích” (C chưa nộp tiền phạt, nhưng hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và không thuộc trường hợp cố tình trì hoàn, trốn tránh)

- Ngày 25/01/2026, bị cáo Nguyễn Văn C bị bắt quả tang, tạm giữ đến ngày 30/01/2026 bị khởi tố bị can và chuyển sang tạm giam tại Phân trại tạm giam A (cơ sở 2) cho đến nay, “có mặt”.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Trần Thanh P1, sinh năm 1990 “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”

Nơi cư trú: F T, phường B, tỉnh Gia Lai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 24/01/2026, Nguyễn Văn C đang dọn dẹp nhà của cha ruột là ông Nguyễn Bửu P, sinh năm 1938, tại thôn N, xã T, tỉnh Gia Lai (ngôi nhà do Chín quản lý, sử dụng; còn nhà của C thì ở sát bên cạnh). Lúc này, C nảy sinh ý định mua ma túy đã về sử dụng nên liên hệ với đối tượng N1 (ở xã N cũ) nhờ mua giúp ma túy nhưng không được. Tiếp tục, C gọi đến tài khoản Z "kedatinh Gap Nguoi của người tên T1 (không xác định) nhờ mua ma túy giúp. T1 đồng ý. Khoảng 13 giờ 05 phút cùng ngày, đối tượng (không xác định) sử dụng số 0899.287 900 gọi đến số điện thoại 0355.419.027 của C trao đổi về việc bán ma túy. C hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá và thống nhất địa điểm giao nhận ma túy là phía trước nhà của C. Sau khi thống nhất xong, C lấy 500.000 đồng tiền mặt bỏ vào khẩu trang y tế đem ra đặt ở phía dưới trụ điện trước nhà và lấy cục đá đè lên, rồi đi vô nhà tiếp tục làm công việc. Một lúc sau, C thấy có 01 thanh niên (không xác định) đi xe loại Vision màu đỏ, mang khẩu trang đến lấy tiền nên liên hệ với T1 nói có người đến lấy tiền rồi thì được T1 nói đó là Đ nhà ở vườn ươm Q (Đ đã từng bán ma túy đá cho C). Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, C đi bộ ra trước ngõ thì thấy tại vị trí đã để tiền trước đó có 01 khẩu trang màu xanh dương. Chín lấy đem vô nhà của cha ruột do C quản lý, rồi mở ra thì thấy có 01 bì nhựa và 01 ống nhựa bên trong đều có chứa ma túy đá. C lấy ống nhựa có chứa ma túy đã cất vào túi quần, còn bì nhựa chứa ma túy đá thì dùng tờ giấy trắng gói lại đem cất giấu dưới trang thờ. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, C thấy mệt mỏi và buồn ngủ nên muốn sử dụng ma tuý để tỉnh táo làm công việc nhà. Chín lấy các công cụ được cất giấu sẵn tại nhà như: 01 chai nhựa bên trong có ống hút nhựa, nắp chai được đục sẵn 02 lỗ để gần ống hút nhựa, nỏ thủy tinh, quẹt gas rồi lắp ráp thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Chín lấy gói ma túy đã cất giấu dưới trang thờ ra, dùng ống hút nhựa múc lấy 01 ít ma tuý đá bỏ vào “nỏ thủy tinh” để sử dụng, số ma tuý còn lại thì cất vào vị trí cũ. C dùng quẹt gas đốt nóng thủy tinh bên trong có ma túy lên và sử dụng khoảng 2-3 hơi, rồi tiếp tục công việc dọn nhà. Một lúc sau, Trần Thanh P1, sinh năm 1990, ở F T, phường B, tỉnh Gia Lai đến nhà của C để nhậu (do trước đó, C có điện thoại rủ P1 đến nhà nhậu). Khi đến nơi, P1 không thấy có tổ chức nhậu mà thấy tại vị trí cửa ra vào phòng thờ có bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong đã có sẵn ma túy. Lúc này, C rủ P1 cùng sử dụng ma túy thì P1 đồng ý. P1 ngồi xuống, tự lấy quẹt gas đốt nóng “nỏ thủy tinh” bên trong có ma túy lên rồi sử dụng được khoảng 02 hơi. Khi cả hai đang sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị Công an xã T phát hiện, bắt quả tang tạm giữ người cùng tang vật. Quá trình bỏ chạy, C, P1 đá trúng chai nhựa gắn nỏ thuỷ tinh làm nỏ thuỷ tinh bị vỡ. Tiến hành test nhanh với chất ma túy thì C, P1 dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

- Vật chứng thu giữ gồm:

+ Các mảnh vỡ thủy tinh nghi là dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy có bám dính chất màu trắng nghi là chất ma túy.

+ 04 quẹt gas, trong đó có 01 quẹt gas được gắn ống kim loại dài 04 cm.

+ 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có chứa 01 quẹt gas, 01 nắp nhựa màu đỏ có đục 02 lỗ tròn, 01 ống kim loại dài 05 cm.

+ 01 ống hút nhựa màu trắng dài 32 cm có quấn băng keo đen ở một đầu và đoạn giữa.

+ 01 chai nhựa màu trắng dài 11cm, có nắp màu xanh đục 02 lỗ hình tròn, một lỗ gắn hút cong màu trắng-cam dài 16 cm, bên trong chai nhựa có một đoạn ống thủy tinh có một đoạn gắn với một vật hình tròn, bằng nhựa.

+ 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 túi nhựa kích thước (5,5x5,5)cm chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy

+ 01 bịch nhựa màu đen bên trong có: 01 cân điện tử kích thước (12x6x2)cm màu trắng bạc có nắp đậy bằng nhựa màu trắng, 07 ống thủy tinh có đường kính 0.5 cm, dài 20 cm, 01 ống thủy tinh hình móc câu dài 8cm, đường kính 0,5cm, phần cong dài 3 cm.

+ 01 đoạn ống nhựa kín 02 đầu dài 04 cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy.

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh da trời, số máy: SM-A750GN/DS, Imei khe 1: 353465100932118, đã qua sử dụng, màn hình và mặt sau điện thoại bị nứt, vỡ.

Số tài liệu, đồ vật trên hiện đang được tạm giữ tại phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – Gia Lai (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 27/QĐ-VKSGLI-KV ngày 15/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Gia Lai).

- Ngày 27/01/2026, Phòng K Công an tỉnh G có bản kết luận giám định số: 288/KL-KTHS, kết luận:

+ Chất màu trắng (ký hiệu A01) bám dính trên các mảnh vỡ thủy tinh gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, lượng chất bám dính ít không đủ để xác định khối lượng.

+ Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A02) đựng bên trong 01 túi nhựa kích thước (5,5x5,5)cm gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,8471 gam là (loại). Methamphetamine.

+ Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A03) đựng bên trong 01 đoạn ống nhựa kín 02 đầu dài 04cm gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2076 gam là (loại): Methamphetamine

Hoàn lại đối tượng giám định:

+ Mẫu A01 đã phân tích hết trong quá trình giám định.

+ Vỏ, bao bì đựng mẫu vật, các mảnh vỡ thủy tinh: 01 đoạn ống hút nhựa, 1,7241 gam mẫu A02 và 0,1132 gam mẫu A03 còn lại sau giám định (đựng trong một bì thư dán kín niêm phong dấu tròn “Phòng K - Công an tỉnh G", chữ ký bên giao và bên nhận)

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn C thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội.

Bản cáo trạng số: 59/CT-VKSGLI-KV ngày 15/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xét xử bị cáo Nguyễn Văn C: từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xét xử bị cáo Nguyễn Văn C: từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự về tổng hợp hình phạt, tuyên buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội danh trên.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư dán kín niêm phong: dấu tròn “Phòng K - Công an tỉnh G, chữ ký bên giao và bên nhận, bên trong chứa: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; các mảnh vỡ thủy tinh; 01 đoạn ống hút nhựa; 1,7241 gam mẫu A02 và 0,1132 gam mẫu A03 còn lại sau giám định; 04 quẹt lửa, trong đó có 01 quẹt lửa được gắn ống kim loại dài 04 cm; 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có chứa 01 quẹt lửa, 01 nắp nhựa màu đỏ có đục 02 lỗ tròn, 01 ống kim loại dài 05cm; 01 ống hút nhựa màu trắng dài 32cm có quấn băng keo đen ở một đầu và đoạn giữa; 01 chai nhựa màu trắng dài 11cm, có nắp màu xanh đục 02 lỗ hình tròn, một lỗ gắn hút cong màu trắng-cam dài 16cm, bên trong chai nhựa có một đoạn ống thủy tinh có một đoạn gắn với một vật hình tròn, bằng nhựa; 01 bịch nhựa màu đen bên trong có: 01 cân điện tử kích thước (12x6x2)cm màu trắng bạc có nắp đậy bằng nhựa màu trắng; 07 ống thủy tinh có đường kính 0,5cm, dài 20cm; 01 ống thủy tinh hình móc câu dài 8cm, đường kính 0,5cm, phần cong dài 3cm.

Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh da trời, số máy: SM-A750GN/DS, Imei khe 1: 353465100932118, đã qua sử dụng, màn hình và mặt sau điện thoại bị nứt, vỡ.

Bị cáo Nguyễn Văn C đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến gì tham gia tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Văn C là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy đá; Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 24/01/2026, C đã mua 500.000 đồng ma túy đá loại Methamphetamine từ đối tượng Đ (không xác định) rồi cất giấu để dành sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, C chuẩn bị công cụ, ma túy và địa điểm rồi rủ Trần Thanh P1 cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà do Chín quản lý, sử dụng ở thôn N, xã T, tỉnh Gia Lai thì bị lực lượng Công an xã T bắt quả tang.

Ngày 24/01/2026, Nguyễn Văn C còn có hành vi cất giấu: 2,0547 gam ma túy loại Methamphetamine tại vị trí phía dưới trang thờ và bên trong túi quần nhằm mục đích sử dụng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã đủ yếu tố cấu thành các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người thường xuyên sử dụng ma túy đá, nhận thức rõ ma túy là chất Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, sử dụng trái phép nhưng vẫn cố ý mua, cất giấu ma túy để sử dụng. Không những vậy, sau khi có ma túy, bị cáo còn chuẩn bị công cụ, địa điểm và chủ động rủ người khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, khối lượng Methamphetamine bị cáo tàng trữ là 2,0547 gam, thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo đã trực tiếp chuẩn bị ma túy, công cụ, địa điểm và rủ Trần Thanh P1 cùng sử dụng. Hành vi của bị cáo làm phát sinh việc sử dụng trái phép chất ma túy của người khác, thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội cần phải xử lý nghiêm.

Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc vào năm 2011 và đã chấp hành xong việc nộp phạt; từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác vào năm 2022 và đã nộp phạt; từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi giúp sức đánh nhau gây thương tích vào năm 2023 nhưng đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt theo quy định và không thuộc trường hợp cố tình trì hoãn, trốn tránh.

Đối với Bản án hình sự phúc thẩm số 68/2013/HSPT ngày 18/4/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định tuyên phạt bị cáo 03 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2015 và đã được xóa án tích. Vì vậy, bị cáo không bị coi là có tiền án và tình tiết này không được sử dụng làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trong vụ án này.

Tuy nhiên, những thông tin về nhân thân nêu trên được Hội đồng xét xử xem xét khi đánh giá toàn diện nhân thân của bị cáo và quyết định mức hình phạt phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài tình tiết nêu trên, hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa chưa có căn cứ xác định bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư dán kín niêm phong: dấu tròn “Phòng K - Công an tỉnh G, chữ ký bên giao và bên nhận, bên trong chứa: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; các mảnh vỡ thủy tinh; 01 đoạn ống hút nhựa; 1,7241 gam mẫu A02 và 0,1132 gam mẫu A03 còn lại sau giám định; 04 quẹt lửa, trong đó có 01 quẹt lửa được gắn ống kim loại dài 04 cm; 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có chứa 01 quẹt lửa, 01 nắp nhựa màu đỏ có đục 02 lỗ tròn, 01 ống kim loại dài 05cm; 01 ống hút nhựa màu trắng dài 32cm có quấn băng keo đen ở một đầu và đoạn giữa; 01 chai nhựa màu trắng dài 11cm, có nắp màu xanh đục 02 lỗ hình tròn, một lỗ gắn hút cong màu trắng-cam dài 16cm, bên trong chai nhựa có một đoạn ống thủy tinh có một đoạn gắn với một vật hình tròn, bằng nhựa; 01 bịch nhựa màu đen bên trong có: 01 cân điện tử kích thước (12x6x2)cm màu trắng bạc có nắp đậy bằng nhựa màu trắng; 07 ống thủy tinh có đường kính 0,5cm, dài 20cm; 01 ống thủy tinh hình móc câu dài 8cm, đường kính 0,5cm, phần cong dài 3cm.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh da trời, số máy: SM-A750GN/DS, Imei khe 1: 353465100932118, đã qua sử dụng, màn hình và mặt sau điện thoại bị nứt, vỡ.

Các vấn đề khác:

Đối với các đối tượng sử dụng tài khoản Zalo “kedatinh Gap Nguoi”, người sử dụng số điện thoại 0899.287.900 và đối tượng tên Đ là những người liên quan đến việc bán ma túy cho Nguyễn Văn C, quá trình điều tra chưa xác định được đầy đủ nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý trong vụ án này. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Trần Thanh P1, mặc dù P1 đã trực tiếp sử dụng ma túy cùng C nhưng quá trình điều tra xác định P1 không có sự hứa hẹn trước, không góp tiền, không cung cấp ma túy, công cụ, phương tiện và không có hành vi giúp sức cho C trong việc tổ chức sử dụng ma túy. Đồng thời, P1 không thuộc trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256a Bộ luật Hình sự. Do đó, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự đối với Trần Thanh P1 là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Gia Lai đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 01 năm 2026.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn C.

4. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư dán kín niêm phong: dấu tròn “Phòng K - Công an tỉnh G, chữ ký bên giao và bên nhận, bên trong chứa: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; các mảnh vỡ thủy tinh; 01 đoạn ống hút nhựa; 1,7241 gam mẫu A02 và 0,1132 gam mẫu A03 còn lại sau giám định; 04 quẹt lửa, trong đó có 01 quẹt lửa được gắn ống kim loại dài 04 cm; 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có chứa 01 quẹt lửa, 01 nắp nhựa màu đỏ có đục 02 lỗ tròn, 01 ống kim loại dài 05cm; 01 ống hút nhựa màu trắng dài 32cm có quấn băng keo đen ở một đầu và đoạn giữa; 01 chai nhựa màu trắng dài 11cm, có nắp màu xanh đục 02 lỗ hình tròn, một lỗ gắn hút cong màu trắng-cam dài 16 cm, bên trong chai nhựa có một đoạn ống thủy tinh có một đoạn gắn với một vật hình tròn, bằng nhựa; 01 bịch nhựa màu đen bên trong có: 01 cân điện tử kích thước (12x6x2)cm màu trắng bạc có nắp đậy bằng nhựa màu trắng; 07 ống thủy tinh có đường kính 0,5cm, dài 20cm; 01 ống thủy tinh hình móc câu dài 8cm, đường kính 0,5cm, phần cong dài 3cm.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh da trời, số máy: SM-A750GN/DS, Imei khe 1: 353465100932118, đã qua sử dụng, màn hình và mặt sau điện thoại bị nứt, vỡ.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 27/QĐ-VKSGLI-KV ngày 15/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Gia Lai).

5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ