- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Quang L và đồng bọn phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Quang L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Trần Huỳnh Đ, Trần Đình K, Trần Linh T, Nguyễn Đình P đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2023/HS-ST Ngày: 22-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Pho
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Hạnh
Ông Lê Ngọc Phi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2023/TLST-HS ngày 27/10/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức đối với các bị cáo:
1. Trương Quang L, sinh năm 2000; Tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: Ấp Lộc H, xã Bình G, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Đức H, sinh năm 1967; Con bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1978; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/02/2023 đến ngày 02/3/2023 chuyển tạm giam, hiện bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “Có mặt”.
2. Trần Đình K, sinh năm 2001; Tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: Thôn 2, xã Bình T, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Đ, sinh năm: 1975; Con bà Trần Thị C, sinh năm 1979; Chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/02/2023 đến ngày 02/3/2023 chuyển tạm giam, hiện bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “Có mặt”.
3. Trần Huỳnh Đ, sinh năm 1999; Tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: Thôn 2, xã Bình T, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T, sinh năm: 1966; Con bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1974; Chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/02/2023 đến ngày 02/3/2023 chuyển tạm giam, hiện bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “Có mặt”.
4. Trần Linh T, sinh năm 1996; Tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: Thôn 2, xã Bình T, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn D, sinh năm: 1970; Con bà Trần Thị Q, sinh năm 1977; Chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/02/2023 đến ngày 02/3/2023 chuyển tạm giam, hiện bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “Có mặt”.
5. Nguyễn Đình P, sinh năm 1997; Tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: Thôn 2, xã Bình T, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1971; Con bà Hà Thị H (Đã chết); Chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/02/2023 đến ngày 02/3/2023 chuyển tạm giam, hiện bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “Có mặt”.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Trần Xuân H, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thôn 2, xã Bình T, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “Có mặt”.
Bà Trần Thị Thùy T, sinh năm 2003; Địa chỉ: Thôn 2, xã Bình T, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20/02/2023, tại khu vực trước quán Karaoke “Cẩm H” thuộc ấp Vĩnh B, xã Bình G, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Châu Đức phát hiện bắt quả tang Trương Quang L có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tang vật thu giữ gồm: 01 bịch nylon màu trắng viền đỏ được dán kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 bịch nylon màu trắng viền đỏ được dán kín bên trong có chứa 05 viên nén không rõ hình dạng (gồm 04 viên màu kem và 01 viên màu hồng) của Trương Quang L; 01 điện thoại di động hiệu Realme C3 màu xanh; 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria biển số 72F1-85857 và 2.900.000 đồng.
Quá trình điều tra, Trương Quang L khai nhận bản thân bắt đầu sử dụng ma túy từ cuối năm 2022 lần đầu L bán ma túy từ ngày 18/02/2023 cho đến khi bị bắt. Vào tối ngày 18/02/2023, L sử dụng mạng xã hội Facebook tên “Trương Quang L” nhắn tin vào tài khoản Facebook tên “Bảo Nguyễn” của Sỳ Bảo N, sinh năm: 1997; Trú tại thôn Chòi Đ, xã Cù B, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, mua 01 bịch ma túy loại khay và 06 viên ma túy loại thuốc lắc với giá 5.000.000 đồng, N đồng ý. L điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki Satria biển số 72F1-858.57 đến phòng trọ của N ở ấp Vĩnh B, xã Bình G, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mua ma túy rồi đi về nhà mình. Lúc này, Lê Duy K, sinh năm: 1992, trú tại ấp Liên L, xã Xà B, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, sử dụng tài khoản Messenger (không nhớ tên tài khoản) gọi đến tài khoản Facebook “Trương Quang L” mua ma túy. L đồng ý rồi điều khiển xe trên đến phòng số 16 nhà nghỉ “Bình G” (ở ấp Vĩnh B, xã Bình G, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) bán cho K 01 bịch ma túy loại khay và 06 viên ma túy loại thuốc lắc với giá 10.000.000 đồng. Khoảng 22 giờ ngày 19/02/2023, cũng với phương thức và thủ đoạn như trên, L mua của N 01 bịch ma túy loại khay và 06 viên ma túy loại thuốc lắc với giá 5.000.000 đồng rồi mang về nhà mình cất giấu để bán. Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 20/02/2023, Trần Đình K sử dụng tài khoản Facebook “Kiệt Tũn” nhắn tin vào tài khoản Facebook “Trương Quang L” mua 03 viên ma túy loại thuốc lắc. Do L đang đi ngoài đường nên L gọi cho N mua 03 viên ma túy loại thuốc lắc với giá 750.000 đồng rồi mang đến trước quán Karaoke “Hoàng G” bán cho K với giá 1.000.000 đồng. Khoảng 01 tiếng sau, K tiếp tục mua của L mua 01 bịch ma túy khay và 01 viên thuốc lắc với giá 2.900.000 đồng. Trên đường về, đối tượng tên P sử dụng tài khoản Messnger “Tê Trần” gọi cho L mua 01 bịch ma túy loại khay và 05 viên thuốc lắc với giá 4.000.000 đồng. Khi L cầm 01 bịch ma túy loại khay (còn 04 viên) và 05 viên thuốc lắc đứng trước quán Karaoke “Cẩm H” để bán cho P thì bị Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Châu Đức phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 97/KL-KTHS-MT ngày 03/3/2023 của Phòng Kỹ Thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kết luận:
“Mẫu A1 gửi đến giám định có khối lượng 1,7801 gam, là ma túy, loại Ketamin. Mẫu A2 gửi đến giám định có khối lượng 1,5804 gam, là ma túy, loại MDMA. Mẫu A3 gửi đến giám định có khối lượng 0,4022 gam, là ma túy, loại MDMA”.
Từ lời khai của Trương Quang L, vào khoảng 23 giờ 15 phút ngày 20/02/2023, tại quán Karaoke “Hoàng G”, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Châu Đức bắt quả tang Trần Đình K, Trần Huỳnh Đ, Trần Linh T, Nguyễn Đình P có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Các đối tượng Nguyễn Hoàng S, Trần Duy Đ, cùng trú tại thôn 2, xã Bình T, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Châu Kim L, Nguyễn Bảo T, Nguyễn Thị Cẩm Th, Nguyễn Kim Á, Lý Phụng A, cùng trú tại đường 30/4, thị trấn Ngãi G, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”. Tang vật thu giữ gồm: 01 đĩa sứ màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, Cơ quan điều tra đã thu gom số chất bột màu trằng này vào trong một bịch nylon màu trắng viền đỏ và dán kín lại. 01 ống hút được làm bằng tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng; 01 thẻ nhựa màu trắng hình chữ nhật; 01 hộp quẹt lửa hiệu Hoa Việt màu đen, đốm trắng, cam; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus màu bạc, số IMEI: 353290074620923 của Trần Đình K; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, số IMEI: 355347084558986 của Trần Huỳnh Đ; 01 xe mô tô hiệu Honda Vario màu đen, biển số: 72F1-903.53 (SM: JM51E2027830, SK: MHIJM5127NK031113) của Đức; 01 xe mô tô hiệu Honda Vario màu trắng đỏ, biển số: 72F1-788.89 (SM: KF41E2068522, SK: MH1KF4124LK063121) của Trần Xuân H; 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng, biển số: 72F1-771.36 (SM: JF8GE5180937, SK: RLHJF582XLJ010279) của Trần Linh T.
Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 20/02/2023, Trần Huỳnh Đ, Nguyễn Đình P và Trần Linh T đến phòng VIP3 quán Karaoke “Hoàng G” nhậu. T nhờ quản lý gọi thêm Lý Phụng Á, Châu Kim L và Nguyễn Thị Cẩm Th đến phục vụ. Đ nhắn tin cho Trần Đình K nhờ mua giùm 03 viên ma túy loại thuốc lắc. K đến quán thì Đ đưa cho K 1.000.000 đồng để mua ma túy. K gọi cho Trương Quang L mua 03 viên ma túy loại thuốc lắc. Khoảng 10 phút sau, L mang ma túy đến trước quán “Hoàng G” thì K lấy đưa vào phòng cho Đ. Đ chia ma túy cho Đ, K, S, Đ, P cùng sử dụng (bỏ vào miệng uống). Riêng T không sử dụng nên đưa nửa viên ma túy này cho Á sử dụng còn T gọi thêm Nguyễn Kim A và Nguyễn Bảo T đến hát và phục vụ bia. Khoảng 40 phút sau, Đ rủ P góp tiền mua ma túy sử dụng nên P đưa cho Đ 500.000 đồng. Đ có 450.000 đồng và mượn thêm T 2.000.000 đồng. T biết Đ mượn tiền mua ma túy nhưng vẫn đồng ý cho Đ mượn số tiền trên. Sau khi gom được 2.950.000 đồng, Đ đưa cho K nhờ mua 01 bịch ma túy loại khay và 01 viên ma túy loại thuốc lắc. K nhắn tin cho Trương Quang L mua số lượng ma túy như trên với giá 2.900.000 đồng. Đ nói 01 nữ nhân viên phục vụ (không nhớ là ai) đi lấy đĩa sứ cho Đ. Sau khi K mua ma túy từ L vào rồi đổ ma túy ra đĩa “xào” lên rồi dùng tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng cuộn lại làm ống hút còn Đ chia ma túy thuốc lắc thành 02 phần đưa cho P và một người (không rõ là ai) để sử dụng. Đ mượn của T chiếc thẻ nhựa màu trắng hình chữ nhật rồi đưa cho K để chia ma túy thành từng đường rồi tất cả mọi người trong phòng đều sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy xong, Đ rủ Trần Xuân H là em của K và Nguyễn Chí T, sinh năm 2006, trú tại thôn 1, xã Bình T, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đến nhậu (H và T không sử dụng ma túy). Đến khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế
- Ma túy Công an huyện Châu Đức bắt quả tang và thu giữ tang vật như đã nêu trên.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức, Trương Quang L, Trần Huỳnh Đ, Trần Đình K, Trần Linh T, Nguyễn Đình P đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 107/KL-KTHS-MT ngày 10/3/2023 của Phòng Kỹ Thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kết luận: “Mẫu A gửi đến giám định có khối lượng 0,2717 gam, là ma túy, loại Ketamin”.
Tại bản Cáo trạng số 118/CT-VKS-CĐ ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức truy tố: Bị cáo Trương Quang L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Đình K, Trần Huỳnh Đ, Nguyễn Đình P, Trần Linh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đối với vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Quang L mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù có thời hạn.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Đình K mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Huỳnh Đ mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Linh T mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình P mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Đề nghị phạt bổ sung: Miễn hình phạt sung cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 2.950.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Realme C3 màu xanh; 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria biển số 72F1-85857; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus màu bạc; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu hồng;
Trả 01 xe mô tô hiệu Honda Vario màu đen, biển số 72F1-903.53 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 72F1-903.53 cho Trần Huỳnh Đ.
Tuyên tich thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong được đánh số 97 ngày 03/3/2023 và 107 ngày 10/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu trắng hình chữ nhật, 01 hộp quẹt lửa hiệu Hoa Việt màu đen, đốm trắng, cam;
Sau phần luận tội của Viện kiểm sát, các bị cáo không tranh luận mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra trong tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Trương Quang L, Trần Huỳnh Đ, Trần Đình K, Trần Linh T, Nguyễn Đình P thừa nhận:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20/02/2023, tại khu vực trước quán Karaoke “Cẩm H”, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Châu Đức bắt quả tang Trương Quang L có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tang vật thu giữ gồm: 01 bịch nylon màu trắng viền đỏ được dán kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 bịch nylon màu trắng viền đỏ được dán kín bên trong có chứa 05 viên nén không rõ hình dạng (gồm 04 viên màu kem và 01 viên màu hồng) của Trương Quang L; 01 điện thoại di động hiệu Realme C3 màu xanh; 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria biển số 72F1-85857 và 2.900.000 đồng. Quá trình điều tra Trương Quang L khai nhận: Vào ngày 18/02/2023, L bán cho Lê Duy K 01 bịch ma túy khay và 06 viên thuốc lắc với giá 10.000.000 đồng; Vào ngày 19/02/2023, L bán cho Trần Đình K 02 lần (lần 1 gồm 03 viên thuốc lắc với giá 1.000.000 đồng và lần 2 gồm 01 bịch ma túy khay và 01 viên thuốc lắc với giá 2.900.000 đồng); Số ma túy bị thu giữ còn lại (gồm 1,9826 gam ma túy loại MDMA và 1,7801 gam ma túy loại Ketamin) L mang bán cho P (không rõ họ tên, địa chỉ) nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang.
Tỷ lệ phần trăm khối lượng chất ma túy loại MDMA so với mức tối thiểu được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 39,652% (1,9826 gam so với 05 gam).
Tỷ lệ phần trăm khối lượng chất ma túy loại loại Ketamin so với mức tối thiểu được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 8,9005% (1,7801 gam so với 20 gam).
Như vậy, tổng phần trăm khối lượng 02 chất ma túy trên là 48.5525%<100% nên hành vi Trương Quang L đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Từ lời khai của Trương Quang L, vào khoảng 23 giờ 15 phút ngày 20/02/2023, tại quán Karaoke “Hoàng G”, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Châu Đức bắt quả tang Trần Đình K, Trần Huỳnh Đ, Trần Linh T, Nguyễn Đình P có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Các đối tượng Nguyễn Hoàng S, Trần Duy Đ, Châu Kim L, Nguyễn Bảo T, Nguyễn Thị Cẩm Th, Nguyễn Kim Á, Lý Phụng A có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tang vật thu giữ gồm: 01 đĩa sứ màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 ống hút làm bằng tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng; 01 thẻ nhựa màu trắng hình chữ nhật; 01 hộp quẹt lửa hiệu Hoa Việt; 02 điện thoại di động các loại; 03 xe mô tô các loại.
Quá trình điều tra, chứng minh được Đ, P, T cùng góp tiền để K đi mua ma túy về sử dụng. Sau khi mua ma túy, K là người đổ ma túy ra đĩa “xào” rồi kẻ thành đường; Đ chia ma túy thuốc lắc và T cung cấp thẻ nhựa cho K kẻ ma túy cho 07 người khác sử dụng trái phép chất ma túy.
Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và tang vật của vụ án, phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ, thấy quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa, giữ nguyên Cáo trạng số 118/CT-VKS-CĐ ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức là có căn cứ.
Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của bị cáo Trương Quang L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Trần Đình K, Trần Huỳnh Đ, Nguyễn Đình P, Trần Linh T đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Trương Quang L, Trần Huỳnh Đ, Trần Đình K, Trần Linh T, Nguyễn Đình P là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước đối với các chất gây nghiện, làm cho nạn nghiện ngập gia tăng. Các bị cáo Trương Quang L, Trần Huỳnh Đ, Trần Đình K, Trần Linh T, Nguyễn Đình P nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc đối với các bị cáo mới thỏa đáng, một mặt để giáo dục riêng các bị cáo và mặt khác là giáo dục phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình có xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để quyết định mức hình phạt chính xác, phù hợp, đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục đồng thời nêu cao tính nhân đạo khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Bị cáo Trương Quang L đã sử dụng ma túy từ cuối năm 2022, thường xuyên mua ma túy về sử dụng. L tham gia mua bán trái phép chất ma túy từ tháng 02 năm 2022.
Về tình tiết tăng nặng không có; Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phạm tội lần đầu, bị cáo tự thú ra các lần phạm tội trước đó nên cần áp dụng các điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Bị cáo Trần Đình K là người góp tiền và đi mua ma túy về sử dụng, trực tiếp đổ ma túy ra dĩa xào.
Về tình tiết tăng nặng không có; Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phạm tội lần đầu, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Bị cáo Trần Huỳnh Đ là người rủ, góp tiền mua ma túy về sử dụng, trực tiếp chia ma túy.
Về tình tiết tăng nặng không có; Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phạm tội lần đầu, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Bị cáo Trần Linh T là người góp tiền mua ma túy về sử dụng, cung cấp thẻ nhựa cho K để kẻ ma túy.
Về tình tiết tăng nặng không có; Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phạm tội lần đầu, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Đình P là người góp tiền mua ma túy về sử dụng.
Về tình tiết tăng nặng không có; Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phạm tội lần đầu, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có thu nhập cũng có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Lời luận tội và mức án đề xuất của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có căn cứ pháp luật và phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Đối với Sỳ Bảo N là đối tượng L khai đã bán ma túy cho L hiện nay đã bỏ trốn không có mặt tại địa phương. Ngày 11/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức ra Quyết định truy tìm người số 07/QĐ-TT-KTMT để điều tra xử lý theo quy định; Lê Duy K (người mua ma túy của L) không có mặt tại địa phương và P (người mua ma túy của L - không rõ họ tên, địa chỉ) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức tiếp tục điều tra và xử lý sau.
Trần Duy Đ, Nguyễn Hoàng S, Nguyễn Thị Cẩm Th, Châu Kim L, Lý Phụng Á, Nguyễn Bảo T và Nguyễn Kim A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 21/02/2023, Công an huyện Châu Đức đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, hình thức: phạt tiền, mức phạt: 1.500.000 đồng/người.
Đối với Trần Xuân H và Nguyễn Chí T không sử dụng ma túy và không liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức không xử lý đối với H và T.
Đối với ông Hoàng Nhật B, sinh năm 1988, trú tại thôn 5, xã Bình T, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, chủ quán Karaoke Hoàng G, thiếu kiểm tra để các đối tượng sử dụng ma túy tại địa điểm do mình quản lý. Ngày 17/8/2023, Ủy ban nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức: Phạt tiền, mức phạt: 15.000.000 đồng và tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự trong thời hạn 09 tháng.
Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 72F1-788.89 của Trần Xuân H, 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 72F1-771.36 của Trần Thị Thùy T là em ruột bị cáo T, không liên quan đến hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức đã trả lại cho chủ sở hữu.
Số tiền Trương Quang L bán ma túy có được thì L làm rơi mất 200.000 đồng, K mua ma túy của L nhưng còn nợ chưa trả 1.500.000 đồng, còn lại L đã tiêu xài cá nhân hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức không thu giữ được.
02 phong bì niêm phong được đánh số 97 ngày 03/3/2023 và 107 ngày 10/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; 01 điện thoại di động hiệu Realme C3 màu xanh; 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria biển số 72F1-85857; 2.950.000 đồng; 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu trắng hình chữ nhật, 01 hộp quẹt lửa hiệu Hoa Việt màu đen, đốm trắng, cam; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus màu bạc; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu hồng; 01 xe mô tô hiệu Honda Vario màu đen, biển số: 72F1-903.53 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 72F1-903.53.
Hội đồng xét xử xét thấy tài sản, nêu trên là những công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà Nước. Đối với 02 phong bì niêm phong được đánh số 97 ngày 03/3/2023 và 107 ngày 10/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu trắng hình chữ nhật, 01 hộp quẹt lửa hiệu Hoa Việt màu đen, đốm trắng, cam cần tịch thu tiêu hủy.
Trả 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria biển số 72F1-85857 cho Trần Huỳnh Đ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân H; Bà Trần Thị Thùy T, không có yêu cầu gì nên Hội xét xử không đưa ra xem xét.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trương Quang L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Trần Huỳnh Đ, Trần Đình K, Trần Linh T, Nguyễn Đình P đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Trương Quang L 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2023.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Trần Đình K 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2023.
3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Trần Huỳnh Đ 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2023.
4. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Trần Linh T 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2023.
5. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Đình P 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2023.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 02 gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định, được đánh số 97 ngày 03/3/2023 và 107 ngày 10/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu trắng hình chữ nhật, 01 hộp quẹt lửa hiệu Hoa Việt màu đen, đốm trắng, cam.
Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 2.950.000 đồng (Hai triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng). Trong đó 2.900.000 đồng tiền mua ma túy, 50.000 đồng tiền dùng làm ống hút; (Giấy nộp tiền vào tài khoản tạm thu của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức ngày 17/11/2023). 01 điện thoại di động hiệu Realme C3 màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus màu bạc; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu hồng; 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria biển số 72F1-85857; Số máy CGA1608064, số khung MH8DL11ANLJ108004.
Trả 01 xe mô tô hiệu Honda Vario màu đen, biển số: 72F1-903.53; Số khung MH1JM5127NK031113, số máy JM51E2027830, kèm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 72F1-903.53 cho Trần Huỳnh Đ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Châu Đức với Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức ngày 17/11/2023).
Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Trương Quang L, Trần Huỳnh Đ, Trần Đình K, Trần Linh T, Nguyễn Đình P, mỗi bị cáo nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/11/2023) các bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo mười lăm ngày áp dụng đối với những người vắng mặt tại phiên tòa được tính từ khi nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - Sở tư pháp tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; - Phòng PC06, PV10 Công an tỉnh BRVT; - VKS huyện Châu Đức; - Chi cục Thi hành án dân sự h.C.Đức; - Công an huyện Châu Đức; -Các bị cáo, người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hữu Pho |