vanban.org

Bản án 106/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 06/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Văn T - 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 6 năm 2017. Buộc bị cáo Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2017/HSST
Ngày: 06-9-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Trường Phát.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Xuân - Cán bộ hưu trí.

2. Ông Phạm Đình Nam - CT. Hội Nông dân xã Xuân Thọ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hạ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Dung - Kiểm sát viên.

Vào ngày 06 tháng 9 năm 2017, tại Nhà văn hóa ấp T, xã X, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2017/HSST ngày 11 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Văn T, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1998 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp G, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Châu ro; Con ông Văn H, sinh năm 1966 và bà Thị N (chết); Tiền sự: không; Tiền án: có 01 tiền án (Tại bản án số 30/2017/HSST ngày 20 tháng 01 năm 2017, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 27 tháng 02 năm 2017; Bị bắt tạm giam ngày 18 tháng 6 năm 2017. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại: Anh Phạm Phú N, sinh năm: 1983; Nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 18 tháng 6 năm 2017, Văn T điều khiển xe mô tô biển số 86H2-6…9 đến tiệm Internet do anh Võ H làm chủ thuộc ấp T, xã X, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Khi vào tiệm chơi khoảng 60 phút, Văn T đói bụng nên đi ra tiệm bán bánh gần đó để mua bánh. Sau đó, Văn T quay về tiệm Internet, Văn T nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 62P1-0….0 của anh Phạm Phú N (trong cốp xe có một giấy đăng ký xe mô tô 62P1-0….0 mang tên Huỳnh Lê P, 01 giấy chứng minh nhân dân tên Phạm Phú N, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng) có cắm sẵn chìa khóa trên xe, không có người trông coi nên Văn T đã nảy sinh ý định trộm cắp xe để đem bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện được ý định, Văn T đã dẫn lùi xe mô tô trên về phía sau rồi quay đầu xe hướng ra đường chờ sẵn. Văn T tiếp tục đi vào tiệm Internet giả vờ sử dụng máy tính được một lúc, khi thấy điều kiện thuận lợi Văn T liền tắt máy tính rồi đi ra chỗ dựng xe mô tô biển số 62P1-0….0 khởi động xe và điều khiển xe chạy về nhà thuộc ấp G, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cất giấu rồi nhờ em Phạm Thị N là em họ sử dụng xe đạp chở đến tiệm Internet để lấy xe mô tô của Văn T về. Sau khi lấy xe về, Văn T ở nhà xem tivi thì bị Cơ quan Công an huyện Xuân Lộc bắt giữ.

Tại kết luận định giá tài sản ngày 26 tháng 6 năm 2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuân Lộc kết luận: giá trị còn lại của xe mô tô hiệu Yamaha loại xe Sirius màu đỏ đen, biển số 62P1-0….0 là 13.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án: xe mô tô hiệu Yamaha loại xe Sirius màu đỏ đen, biển số 62P1-0….0; 01 giấy đăng ký xe môtô biển số 62P1-0….0 mang tên Huỳnh Lê P; 01 ví nam bằng da màu đen; 01 chứng minh nhân dân tên Phạm Phú N; 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Phạm Phú N; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Phạm Phú N và số tiền 500.000 đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc đã trả cho anh Phạm Phú N. Xe mô tô hiệu Successful màu xanh biển số 86H2-6…9, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc đã trả cho anh Văn L.

Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKS-HS ngày 11 tháng 8 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Xuân Lộc giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo bản cáo trạng và đề nghị xử phạt bị cáo từ 08 đến 10 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, bị cáo Văn T khai nhận: vào khoảng 08 giờ ngày 18 tháng 6 năm 2017, Văn T điều khiển xe mô tô biển số 86H2-6..9 đến tiệm Internet thuộc ấp T, xã X, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp của anh Phạm Phú N xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 62P1-0….0 trị giá 13.000.000 đồng, trong cốp xe có một giấy đăng ký xe môtô 62P1-0….0 mang tên Huỳnh Lê P, 01 giấy chứng minh nhân dân tên Phạm Phú N, 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Phạm Phú N, 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Phạm Phú N và 01 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo Văn T phù hợp với nội dung bản cáo trạng, ý kiến của Kiểm sát viên, các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là xe mô tô trị giá 13.000.000 đồng và số tiền 500.000 đồng của anh Phạm Phú N, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 13.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy:

Bị cáo là công dân có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nhưng chỉ vì cần có tiền để tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo đã 01 lần bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo vừa chấp hành xong hình phạt tù nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp: gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại, bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức hạn chế, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về vật chứng vụ án: xe mô tô hiệu Yamaha loại xe Sirius màu đỏ đen, biển số 62P1-0….0; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 62P1-0….0 mang tên Huỳnh Lê P; 01 ví nam bằng da màu đen; 01 chứng minh nhân dân tên Phạm Phú N; 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Phạm Phú N; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Phạm Phú N và số tiền 500.000 đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc đã trả cho anh Phạm Phú N là phù hợp. Xe mô tô hiệu Successful màu xanh biển số 86H2-6..9 của anh Văn L, anh Văn L không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc đã trả cho anh Văn L là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: anh Phạm Phú N đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: bị cáo Văn T - 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 6 năm 2017.

- Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Phú N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ