vanban.org

Bản án 106/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 22/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: ị cáo Dương Quang N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Quang N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 6 năm 2017. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị c o theo quy định tại khoản 5 Điều 138 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Quang N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: ị cáo Dương Quang N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/ 2017/ HSST
Ngày 22 tháng 9 năm 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH - TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;

Các hội thẩm nhân dân:

1.Ông: Dương Viết Vĩnh;

2. Ông: Nguyễn Văn Đào.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Thảo - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 105/2017/HSST ngày 24 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dƣơng Quang N, sinh ngày: 06/6/1982;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm C, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 09/12;

Con ông: Dương Văn L, sinh năm 1950 và bà: Dương Thị H, sinh N 1950. Gia đình có 05 anh em bị c o à con thứ năm.

Có vợ: Nguyễn Thị G, sinh N: 1983 (Đã y hôn) và có 02 con, con ớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006.

Tiền sự: Có 1 tiền sự - Ngày 29/12/2011 bị CA thành phố Thái Nguyên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản .

Tiền án: Có 02 tiền án:

+ Tại Bản án số 15/2012/HSST ngày 27/12/2012 của TAND huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam xử phạt 18 tháng tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

+ Tại Bản án số 97/2015/HSPT, ngày 31/3/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

ị c o bị bắt tạm giam từ ngày 07/6/2017 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Th i Nguy n.

( ó m t tại phi n t a)

Ngƣời bị hại: hị Đồng Thị L, sinh ngày: 03/6/ 1992;

Nơi thường trú: Xóm C, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có m t tại phi n t a)

Ngƣời làm chứng:

- hị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1972;

- hị Hoàng Thị L, sinh năm: 1978;

- hị Vũ Thị M, sinh năm: 1985;

ùng trú tại: Xóm C, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Anh Dương Đình N1, sinh năm: 1979;

Trú tại: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Anh Nguyễn Văn ông, sinh năm: 1990;

- Anh Hà Trọng L, sinh N: 1990;

Cùng trú tại: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1985;

Trú tại: Xóm T, xã T, TP. S, tỉnh Thái Nguyên.

(Bà T có m t, chị L, chị M vắng m t nhưng có đơn đề nghị xét xử

vắng m t, anh N1, anh C, anh L và anh T đều m t tại phi n t a)

NHẬN THẤY:

Bị cáo Dương Quang N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/5/2017, bị cáo Dương Quang N đi bộ một mình sang nhà chị Hoàng Thị L, à người ở cùng xóm với N hỏi mượn xe nhưng không được nên N đi về. Khi đi qua cổng nhà chị Nguyễn Thị T (ở cạnh nhà chị L). N phát hiện thấy trong sân nhà chị T có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS màu đỏ đen KS: 20P1- 3053 đang dựng gần gốc cây sấu (Sau x c định là xe của chị Đồng Thị L, sinh N 1992 là con dâu của chị T). Quan sát xung quanh không thấy có ai, N tiến lại gần chỗ dựng xe thì nhìn thấy chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa n n đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe m y tr n để bán lấy tiền tiêu sài. Sau đó N dùng hai tay dắt chiếc xe ra khỏi cổng nhà chị T. Đúng úc đó chị L đứng ở bên sân nhà nhìn thấy N dắt xe n n nói “N ơi sao mày ấy xe của TL”. N không trả lời mà ngồi lên xe bật chìa khóa điện nổ m y phóng đi. Nghe thấy tiếng xe máy nổ chị T từ trong nhà chạy ra nhìn thấy N đang ngồi trên xe máy của chị L điều khiển xe đi về phía làng N, xã B nên chị T gọi cho chị Vũ Thị M là em dâu của mình lấy xe máy nhà chị M cùng đuổi theo N, khi đuổi n đến ngã tư xã Đ, huyện P thì xe của chị M hết xăng n n không tiếp tục đuổi theo N được. Sau đó chị M và chị T đi về nhà rồi àm đơn trình b o ông an đề nghị giải quyết.

Sau khi lấy được xe N điều khiển xe đi đến nhà Dương Đình N1, trú qu n xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Thì g p N1 đang ở nhà, N nói đây à xe của chị gái N rồi nhờ N1 thay biển số xe và mang đi cầm cố hộ. N1 đồng ý tháo chiếc biển kiểm soát 20P1- 3053 của xe cất đi rồi lấy một chiếc biển kiểm so t cũ của xe máy khác lắp vào (N không nhớ số cụ thể là những số nào). Lắp xong N1 gọi điện cho Hà Trọng L, trú quán xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên nhờ tìm người cầm hộ xe cho N. L đồng ý rồi gọi điện cho Nguyễn Văn à người cùng xóm với L đi đến nhà N xem xe. Đến nơi trao đổi và nhất trí với N1 nhận cầm cố chiếc xe mô tô trên với gi 2.800.000 đồng trong thời hạn từ ba đến năm ngày. Khi cầm cố cả hai bên không viết giấy tờ và cũng không thỏa thuận với nhau về tiền lãi. C không biết nguồn gốc chiếc xe trên là do N trộm cắp mà có nên sau khi giao tiền cho N, C đã đi xe về gửi ở nhà L. Còn N cầm tiền của ông đưa cho N. Sau khi nhận tiền N đưa cho N1 1.500.000 đồng do có vay nợ trước đó, c n N giữ lại 1.300.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên N và N1 đều đã ti u sài c nhân hết. Do quá thời hạn không thấy N1 đến chuộc lại xe C gọi điện cho N1 thì được biết N1 không chuộc lại nữa. Thấy N1 nói vậy C đến nhờ L tìm người bán lại chiếc xe tr n để lấy lại tiền. L đồng ý rồi gọi điện cho Nguyễn Văn T, trú qu n xóm T, xã T, thành phố S, tỉnh Th i Nguy n để hỏi bán xe, L nói với T là xe của ông anh bị mất giấy tờ đăng ký từ lâu, giờ không đi nữa nên muốn bán. T đã đồng ý sang nhà L xem xe và đồng ý mua lại chiếc xe đó với giá 3.800.000đ. L nhận tiền và đưa cho 3.500.000đ c n L giữ lại 300.000 đồng. Mua xong T đi chiếc xe trên về nhà đến ngày 01/6/2017 thì b n cho người đàn ông khoảng 40 tuổi không quen biết với gi 4.100.000 đồng.

Ngày 31/5/2017, cơ quan SĐT ông an huyện Phú Bình đã ra quyết định trưng cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô BKS: 20P1- 3053 do N đã trộm cắp. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 97/KL-ĐG ngày 01/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P có kết luận chiếc xe mô tô trên có giá trị 7.000.000 đồng.

Vật chứng của vụ án là chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đỏ đen, hiện chưa thu hồi được chị Đồng Thị L là chủ sở hữu chiếc xe trên có yêu cầu bồi thường 7.000.000 đồng. Đối với chiếc BKS: 20P1-3053 của xe, cơ quan SĐT đã thu hồi đã được trả lại cho chị L là chủ sở hữu quản lý.

Tại bản cáo trạng số 105/KSĐT ngày 23/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Th i Nguy n đã truy tố bị cáo Dương Quang N về tội: "Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh uận, đại diện Viện kiểm s t trình bày ời uận tội đối với bị c o, giữ nguy n quan điểm đã truy tố và đề nghị với Hội đồng xét xử như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Dương Quang N phạm tội:“Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 và Điều 33 của BLHS, xử phạt bị cáo Dương Quang N từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- VÒ tr¸ch nhiÖm d©n sù: Áp dụng Điều 42 của LHS và Điều 584, 589 của BLDS, buộc bị cáo Dương Quang N phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Đồng Thị L số tiền 7.000.000 đồng.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí một khoản án phí HSST và DSST sung quỹ Nhà nước theo quy định của Pháp luật.

Bị cáo Dương Quang N không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì thêm về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Người bị hại chị Đồng Thị L có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho chị só tiền 7.000.000 đồng.

ăn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phi n toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phi n toà tr n cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY:

Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Dương Quang N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả. Bị cáo đều x c định VKSND huyện P truy tố bị cáo về tội danh: Trộm cắp tài sản à đúng người, đúng tội, không oan.

Xét ời khai nhận tội của bị c o tại phi n t a à kh ch quan, tự nguyện phù hợp với c c tài iệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ n như: iên bản sự việc, đơn trình b o, bản kết uận định gi tài sản, ời khai của người bị hại, ời khai của những người àm chứng trong vụ n và phù hợp với chính ời khai của bị c o tại cơ quan điều tra. Như vậy, đã có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử x c định:

ị c o Dương Quang N à đối tượng nghiện chất ma túy, n n bị c o đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản của người kh c b n ấy tiền để mua ma túy và tiều sài c nhân đó. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/5/2017 tại nhà chị Nguyễn Thị T thuộc xóm C, xã B, huyện P ợi dụng sự sở hở của chủ quản ý sở hữu tài sản bị c o N đã có hành vi én út trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius KS 20P1-3053 của chị Đồng Thị L( à con dâu chị T) có gi trị 7.000.000 đồng. Sau đó bị c o đã mang chiếc xe mô tô nói tr n nhờ Dương Đình N1 cầm cố cho Nguyễn Văn ấy 2.800.000 đồng. Số tiền này bị c o đã trả nợ cho N1 và mua ma túy và ti u sài hết.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ độ tuổi và năng ực trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo về Tội danh và Điều luật n u tr n à có căn cứ và đúng quy định của Pháp luật.

Nội dung Điều 138 Bộ luật hình sự quy định nhƣ sau:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới N mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Hành vi phạm tội của bị c o à nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người kh c được Ph p uật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc trong dư uận quần chúng nhân dân.Vì vậy, hành vi phạm tội của bị c o cần phải được xử ý nghi m minh theo đúng quy định của ph p uật.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Ngày 31/3/2015 bị cáo Dương Quang N bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Điều 64, 67 của BLHS bị c o chưa được xóa án tích. Do đó, bị c o phải chịu một tình tiết tăng n ng tr ch nhiệm hình sự à t i phạm theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của LHS.

Trong qu trình điều tra và tại phi n toà, bị c o đã thành khẩn khai b o về hành vi phạm tội của mình, n n bị c o được hưởng một tình tiết giảm nhẹ tr ch nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của LHS.

Về nhân thân, thấy bị c o à đối tượng nghiện chất ma túy, bản thân đã bị xử phạt tù nhiều ần về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không ấy đó àm bài học kinh nghiệm, tu dưỡng rèn uyện bản thân mà tiếp tục ao vào con đường phạm tội. Điều đó thể hiện bị c o à người có nhân thân rất xấu và coi thường Ph p uật. Vì vậy dù có giảm nhẹ phần nào về hình phạt nhưng cũng cần n n một mức n nghi m khắc và cách ly bị c o khỏi xã hội một thời gian cần thiết để có t c dụng cải tạo, gi o dục bị c o và răn đe, ph ng ngừa chung.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: ị c o đã có hành vi trộm cắp tài sản à chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, KS 20P1- 3053 của chị Đồng Thị L, hiện chiếc xe mô tô nói tr n chưa được thu hồi trả ại chủ sở hữu. Trong qu trình điều tra và tại phi n t a chị L y u cầu bị c o phải bối thường cho chị gi trị chiếc xe mô tô nói tr n được tính thành tiền à 7.000.000 đồng. Xét y u cầu của chị L à có căn cứ phù hợp quy định tại điều 42 của LHS và Điều 584, 589 của LDS n n cần được chấp nhận và buộc bị c o phải có tr ch nhiệm bồi thường cho chị Đồng Thị L gi trị chiếc xe mô tô nói tr n được tính thành tiền à 7.000.000 dồng.

Ngoài hình phạt chính ra bị c o c n có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 138 của LHS. Tuy nhi n, xét thấy bị c o à đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp và không có tài sản ri ng. Do đó không cần thiết p dụng hình phạt bổ sung đối với bị c o.

Trong vụ án này còn có Dương Đình N1, Nguyễn Văn , Hà Trọng L và Nguyễn Văn T là những người có i n quan đến vụ án này. Tuy nhiên khi N mang xe lên nhờ Nam tìm người cầm cố hộ thì N có nói đây à xe mượn của chị gái chỉ cầm cố vài ngày rồi chuộc lại. Nên cả N1, C, L và T đều không biết chiếc xe trên là do phạm tội mà có, n n cơ quan SĐT ông an huyện Phú Bình không xử ý đối với N1, L, C và T à đúng quy định pháp luật.

Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi m c áo có chữ khu công nghiệp Y là người đến mua xe của T, qu trình điều tra T khai không quen biết người này nên chưa có căn cứ để xử ý. ơ quan SĐT tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau;

Xét đề nghị của đại diện VKS trong ời uận tội đối với bị c o về: Tội danh, điều uật p dụng mức hình phạt chính, tr ch nhiệm bồi thường thiệt hại à có căn cứ phù hợp với c c quy định của Ph p uật cần được chấp nhận.

ần p dụng Điều 228 của LTTHS ra quyết định tạm giam bị c o với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành n.

Về án phí: ị c o phải chịu một khoản n phí Hình sự sơ thẩm và Dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 99 của LTTHS và Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản ý và sử dụng n phí, ệ phí Toà n.

ị c o, người bị hại được quyền kh ng c o bản n này trong hạn Luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: ị cáo Dương Quang N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Quang N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 6 năm 2017.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị c o theo quy định tại khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình sự.

2. Áp dụng Điều 228 của BLTTHS: Ra quyết định tạm giam bị cáo Dương Quang N với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án (22/9/2017).

3. Việc bồi thƣờng thiệt hại: Áp dụng Điều 42 của LHS và c c Điều 584, 589 của BLDS, buộc bị cáo Dương Quang N phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Đồng Thị L số tiền à 7.000.000đ ( ảy triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn y u cầu thi hành án của người được thi hành n, cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng người thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Dương Quang N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST và 350.000đ ( a trăm năm mươi nghìn đồng) án phí DSST có giá ngạch sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có m t bị c o và người bị hại báo cho những người này biết có quyền kh ng c o bản n trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n n.

Trường hợp bản n được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bi cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. N¬i nhËn:

Cỡ chữ