vanban.org

Bản án 105/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 21/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đ Q, Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Đặng Hu phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với ba bị cáo; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Hu, bị cáo Đ và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Q; Hình phạt chính: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Q cùng đồng phạm. Tổ chức SDTPCMT - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đ Q, Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Đặng Hu phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:105/2023/HS-ST
Ngày: 21/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂ THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thành Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Khỏe và ông Nguyễn Văn Hướng.

Thư ký phiên toà: Bà Ngô Hoàng Phương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: ông Nguyễn Thành Long – Kiểm sát viên.

Người hỗ trợ tổ chức phiên toà tại điểm cầu thành phần:

- Ông Nguyễn Quang Dũng - Thư ký TAND thành phố Hải Dương;

- Bà Lê Phương Dung - Kiểm sát viên VKSND TP. Hải Dương;

- Ông Nguyễn Văn Chính- Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.

Ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương và một điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2023/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 6 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và Tên: Nguyễn Đ Q - sinh năm 1993 tại Hải Dương; ĐKHKTT: Thôn Thiện Trang, xã Thanh Xuân, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở: Phòng trọ số 3 nhà số 1/32/167 Nguyễn Thượng Mẫn, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Q tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Họ và tên bố: Không xác định; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Xuy – đã chết; tiền sự: không.

Tiền án: Ngày 29/5/2020 bị TAND thành phố Hải Dương xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ra trại ngày 11/4/2021.

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2953 ngày 12/12/2018 của Công an tỉnh Hải Dương xử phạt số tiền 7.500.000 đồng về hành vi tàng trữ pháo nổ; nộp phạt ngày 14/12/2018.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2023 đến ngày 12/01/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương cho đến nay. Có mặt.

2. Họ và Tên: Nguyễn Xuân Đ - sinh năm 1994 tại Hải Dương; ĐKHKTT: Số 63 Bùi Thị Xuân, phường Lê Thanh Nghị, tp Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: 25/59 Bùi Thị Xuân, phường Lê Thanh Nghị, tp Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Q tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Họ và tên bố: Nguyễn Hồng Sơ; Họ và tên mẹ: Lương Thị Kha; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Hu, sinh năm 1998; Có 01 con, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Chưa.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2023 đến ngày 12/01/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương cho đến nay. Có mặt.

3. Họ và Tên: Nguyễn Đặng Hu - sinh năm 1991 tại Hải Dương; KHKTT: Số 22c/59 Bùi Thị Xuân, phường Lê Thanh Nghị, tp Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: không cố định. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Q tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Họ và tên bố: Nguyễn Văn Hưng; Họ và tên mẹ: Đặng Thị Hường; Tiền án, tiền sự: Chưa.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2023 đến ngày 12/01/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương cho đến nay.

- Người làm chứng:

+ Chị Qùy, sinh năm 1993; Địa chỉ: 111 Bạch Đằng, Trần Phú, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

+ Ông Chu Văn Tích, sinh năm 1945; Địa chỉ: Địa chỉ: Số 30/311 đường Điện Biên Phủ, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 06/01/2023 Nguyễn Đặng Hu và Nguyễn Xuân Đ đi ăn tối cùng nhau tại khu vực đường Bà Triệu, thành phố Hải Dương. Sau khi ăn xong, Hu và Đ rủ nhau đến phòng trọ của Nguyễn Đ Q ở số nhà 1/32/167 Nguyễn Thượng Mẫn, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương để sử dụng ma túy. Cả hai thống nhất Đ trả tiền ăn còn Hu trả tiền mua ma túy nên Đ đưa cho Hu vay số tiền 500.000 đồng và bảo Hu đến phòng trọ của Q trước, còn Đ đi đón chị Qùy để rủ Thùy đến cùng sử dụng ma túy. Hu đến phòng trọ của Q và rủ Q mua ma túy về sử dụng, Q đồng ý nên Hu đưa cho Q số tiền 500.000 đồng để mua ma túy. Q đi ra đến cổng khu trọ thì gặp Đ và Thùy đến, Q bảo cả hai vào trong phòng trọ, còn Q đi ra khu vực ngõ 167 Nguyễn Thượng Mẫn, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy tổng hợp với số tiền 500.000 đồng và xin thêm người này 01 coóng thủy tinh, 01 ống hút nhựa. Sau đó Q đi về phòng trọ lấy trong ngăn tủ 01 bình nhựa để lắp coóng cùng ống hút vào để làm dụng cụ sử dụng ma túy. Q cho ma túy vào và dùng bật lửa hơ nóng ma túy sau đó sử dụng bằng hình thức hít vào cơ thể. Tiếp đến Hu, Đ, Thùy lần lượt cùng nhau sử dụng ma túy; đến khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày thì tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Dương kết hợp Công an phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương trong khi làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang Nguyễn Đ Q, Nguyễn Đặng Hu, Nguyễn Xuân Đ và chị Qùy đang sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời thu giữ một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình nhựa có nắp màu xanh được đục 02 lỗ; 01 coóng thủy tinh bên trong có bám dính muội khói màu đen; 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 bật lửa gas màu tím và 01 vỏ túi nilon màu trắng, kích thước (1x1)cm, bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng. Quá trình bắt quả tang có sự chứng kiến của ông Chu Văn Thích.

Tại Biên bản xét nghiệm nước tiểu ngày 07/01/2023 thể hiện: Trong nước tiểu của Nguyễn Đ Q, Nguyễn Đặng Hu, Nguyễn Xuân Đ và Qùy cho kết quả Dương tính với ma túy Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 95 ngày 10/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Muội khói màu đen bám dính bên trong coóng thủy tinh gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

Các bị cáo Nguyễn Đ Q, Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Đặng Hu thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Đặng Hu có mẹ đẻ là thương binh hạng 4/4; bị cáo Đ có bố đẻ là ông Nguyễn Hồng Sơn hoạt động quân đội tại Đặc Khu Quảng Ninh chiến đấu bảo vệ Biên giới phía Bắc Tổ Q nhiều năm, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Q bị kết án 15 tháng tù theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự tại Bản án số 64 ngày 29/5/2020, chấp hành xong hình phạt ngày 11/4/2021 nên chưa được xóa án tích, phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm”; các bị cáo Đ, Hu không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.

Vật chứng trong vụ án bao gồm: 01 phong bì niêm phong số 95/KL-KTHS, 01 bình nhựa có nắp màu xanh được đục 02 lỗ, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 bật lửa gas màu tím sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Đ Q, Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Đặng Hu đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tôi. Bị cáo Hu thừa nhận có đưa 500.000 đồng cho Nguyễn Đ Q đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng.

Tại Cáo trạng số 99/CT – VKSTPHD ngày 25 tháng 5 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Q, Đ, Hu về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58 đối với ba bị cáo và áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với Nguyễn Đặng Hu, Nguyễn Xuân Đ; điểm h khoản 1 Điều 52 đối với Nguyễn Đ Q của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đ Q, Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Đặng Hu phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Đ Q từ 7 năm 09 tháng tù đến 8 năm tù.

Bị cáo Nguyễn Xuân Đ từ 7 năm 06 tháng tù đến 7 năm 09 tháng tù.

Bị cáo Nguyễn Đặng Hu từ 7 năm 06 tháng tù đến 7 năm 09 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 95/KL-KTHS, 01 bình nhựa có nắp màu xanh được đục 02 lỗ, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 bật lửa gas màu tím.

Các bị cáo Nguyễn Đặng Hu, Nguyễn Xuân Đ phải chịu án phí sơ thẩm; miễn án phí sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Đ Q.

Các bị cáo nhận tội và ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06/01/2023; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an thành phố Hải Dương lập ngày 07/01/2023, phù hợp với Bản kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Hải Dương; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng đã được thu giữ, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 06/01/2023 tại phòng trọ số 3, số nhà 1/32/167 Nguyễn Thượng Mẫn, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương của Nguyễn Đ Q; Q cùng với Nguyễn Đặng Hu và Nguyễn Xuân Đ có hành vi chuẩn bị địa điểm, dụng cụ và chất ma túy để cùng Qùy sử dụng trái phép thì bị phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây nguy hiểm, mất trật tự trị an xã hội, gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Như vậy, hành vi chuẩn bị địa điểm, công cụ, phương tiện và ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác đã phạm vào tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Xét tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo đã có hành vi tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy nên đã vi phạm điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự “Đối với 02 người trở lên”.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng; hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, đưa chất ma túy vào cơ thể người khác sẽ làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, thậm chí ảnh hưởng đến tính mạng. Mặt khác, sử dụng trái phép ma túy sẽ làm phát sinh nhiều loại tội phạm và là một trong những nguyên nhân làm lan truyền nhiều căn bệnh nguy hiểm, là hiểm hoạ đối với mọi gia đình và xã hội. Chính vì vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đ Q phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” do đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Đến ngày 29/3/2023, bị cáo Hu thay đổi lời khai, cho rằng đưa 500.000 đồng cho bị cáo Q không phải với mục đích đi mua ma túy, mà đó là tiền trả nợ bị cáo Q. Tuy nhiên, tại phiên tòa cả ba bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải, bị cáo Hu có mẹ đẻ là thương binh hạng 4/4; bị cáo Đ có bố đẻ là ông Nguyễn Hồng Sơn hoạt động quân đội tại Đặc Khu Quảng Ninh chiến đấu bảo vệ Biên giới phía Bắc Tổ Q nhiều năm. Vì vậy, ba bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1; bị cáo Hu, Đ được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Vụ án có đồng phạm nên cần phân hóa vai trò của từng bị cáo, đồng thời căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Hu và Đ là người đề xuất đến chỗ ở của Q để sử dụng ma túy, đưa tiền cho Q đi mua ma túy về sử dụng. Bị cáo Q là người trực tiếp đi mua ma túy, chuẩn bị địa điểm, công cụ để sử dụng ma túy, bị cáo cũng là người có nhân thân xấu, có tiền án chưa được xóa cũng về tội phạm ma túy nhưng không lấy đó làm bài học để trở thành công dân tốt, mà vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật. Do vậy, cần đánh giá bị cáo Q giữ vai trò đầu trong vụ án, các bị cáo Hu và Đ là đồng phạm thực hành tích cực có vị trí vai trò như nhau. Cần thiết buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội mới có đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho người khác với mục đích tạo ảo giác mong muốn đem lại sự vui vẻ, thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo tổ chức không nhằm mục đích thu lời bất chính. Xét hoàn cảnh gia đình, tính chất mức độ tội thực hiện nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy công cụ phương tiện không còn giá trị dùng vào việc phạm tội theo quy định của pháp luật;

Về những vấn đề khác: Đối với chị Qùy có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố Hải Dương đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; bị cáo Q thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí sơ thẩm hình sự.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đ Q, Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Đặng Hu phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với ba bị cáo; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Hu, bị cáo Đ và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Q;

Hình phạt chính:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đ Q 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06 tháng 01 năm 2023. Tiếp tục giam bị cáo thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Đ 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06 tháng 01 năm 2023. Tiếp tục giam bị cáo thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đặng Hu 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06 tháng 01 năm 2023. Tiếp tục giam bị cáo thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 95/KL-KTHS (bên trong có 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 coóng thủy tinh và 01 vỏ phong bì); 01 bình nhựa có nắp màu xanh được đục 02 lỗ; 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 bật lửa gas màu tím. (Đặc điểm, tình trạng vật chứng, niêm phong theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 06/6/2023).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Đặng Hu, Nguyễn Xuân Đ phải chịu 200.000 đồng án phí; bị cáo Nguyễn Đ Q được miễn án phí sơ thẩm hình sự.

5. Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ