- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án HS - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105 /2019/HSST Ngày: 29/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đồng Trưng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Dung
2. Ông Đặng Thế Vinh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hiển Vinh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Trung Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 05 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2019/HSST ngày 16 tháng 05 năm 2019 đối với bị cáo:
* Họ và tên : Lê Hoàng D Giới tính : Nam
Sinh năm : 1985
HKTT: tổ 6 phường Phương L, TP. H B, tỉnh Hoà Bình
Chỗ ở: số 12 Hàng H, phường HT, quận H, Hà Nội
Nghề nghiệp : Tự do ; Trình độ học vấn : 12/12; Quốc tịch : Việt Nam ; Dân tộc : Kinh ; Tôn giáo : không ; Họ tên cha : Lê Đôn H ; Sinh năm : 1957 ; Họ tên mẹ : Hoàng Thị L ; Sinh năm : 1958 ; Gia đình có hai anh em, bị can là con thứ nhất ; Vợ : Đoàn Thị D1 -Sinh năm : 1988 ; Con : Lê Hoàng Bảo N- Sinh năm : 2017
Nhân thân : Chưa có tiền án, tiền sự.
Tạm giữ ngày: 13/01/2019
Huỷ bỏ tạm giữ: 22/01/2019
Hiện bị cáo Lê Hoàng D đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
* Người Làm chứng:
Ông Phan Văn K - Sinh năm: 1962;
Trú tại: 931 B Đ, phường B Đ, quận HB, Hà Nội (Vắng mặt)
Néi dung vô ¸n
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 55 phút ngày 13/01/2019, Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Chức vụ - Công an quận Hoàn Kiếm làm nhiệm vụ trên địa bàn phát hiện Phan Văn K (Sinh năm: 1962; Trú tại: 931 B Đ, phường B Đ, quận HB, Hà Nội) đang vận chuyển 01 (một) thùng carton tại trước cửa ngõ 12 Hàng H, phường HT, quận H, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong thùng carton trên có chứa 440 (bốn trăm bốn mươi) bao thuốc lá các loại có nhãn mác in chữ nước ngoài không dán tem theo quy định - nghi vấn là thuốc lá nhập lậu. Tổ công tác đã đưa K cùng toàn bộ số tang vật về trụ sở Công an phường Hàng Trống để làm rõ. Tại đây, K khai toàn bộ số hàng hóa trong thùng carton là của Lê Hoàng D thuê K vận chuyển.
Thu giữ của Phan Văn K: 100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu RAISON SUN FRESSO; 100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu AFRICA RULA; 240 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 GOLD.
Hồi 13 giờ 55 phút cùng ngày, Lê Hoàng D đã đến Công an phường Hàng Trống khai nhận 440 bao thuốc lá công an thu giữ là của D thuê K vận chuyển và đều là thuốc lá do nước ngoài sản xuất không có hoá đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc, mục đích bán kiếm lời. Ngoài ra D còn khai đang cất giấu một số thuốc lá tại nơi ở của D. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Hoàn Kiếm đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của D tại số 12 Hàng Hành, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Qua khám xét đã phát hiện và thu giữ được:
- 450 bao thuốc lá nhãn hiệu CASTER 5 ;
- 30 bao thuốc lá nhãn hiệu WINSTON CASTER WHITE 3mg ;
- 240 bao thuốc lá nhãn hiệu 555 GOLD ;
- 280 bao thuốc lá nhãn hiệu 555 ORIGINAL ;
- 100 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE SPECIAL GOLD ;
- 240 bao thuốc lá nhãn hiệu WINSTON CASTER WHITE 5mg ;
- 30 bao thuốc lá nhãn hiệu BOHEM ;
- 10 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE CHANGE UP ;
- 30 gói thuốc lá sợi nhãn hiệu CAPTAIN BLACK 42,5mg ;
- 25 gói thuốc lá sợi nhãn hiệu ORIGINAL CHOICE 40mg.
Tổng cộng khám xét thu giữ là: 1380 bao thuốc lá điếu, mỗi bao thuốc lá có 20 điếu, không dán tem theo quy định và 55 gói thuốc lá sợi.
Tại bản Kết luận giám định số 557/KLGĐ-PC09 ngày 20/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
* Tang vật thu giữ của Phan Văn K gồm : Toàn bộ 440 bao thuốc lá (mỗi bao có 20 điếu) đều là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất.
* Tang vật thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Hoàng D gồm :
- Toàn bộ 1380 bao thuốc lá (mỗi bao có 20 điếu) đều là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất ;
- Toàn bộ 55 gói thuốc lá sợi đều là thuốc lá sợi do nước ngoài sản xuất. Cụ thể : 30 gói thuốc lá sợi nhãn hiệu CAPTAIN BLACK, tổng khối lượng : 1275 gam ; 25 gói thuốc lá sợi nhãn hiệu ORIGINAL CHOICE, tổng khối lượng : 1000 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Hoàng D khai: Tháng 12 năm 2018, D mua khoảng 2000 bao thuốc lá điếu và 55 gói thuốc lá sợi do nước ngoài sản xuất (không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc, không dán tem nhập khẩu) của một số người không quen biết tại khu vực phố Nguyễn Sơn, quận Long Biên, Hà Nội với mục đích bán kiếm lời. Sau đó, D cất giấu số thuốc lá ngoại đã mua tại nơi ở của D tại số 12 Hàng Hành và đã bán lẻ cho khách 180 bao thuốc lá điếu, thu lời khoảng 2000 đồng trên mỗi bao. Đến ngày 13/01/2019, D thuê Phan Văn K là lái xe ôm vận chuyển 440 bao thuốc lá từ nhà D đến khu vực ngã tư phố Hàng Gai – Lương Văn Can trước, D sẽ đến sau và mang đi rao bán. Tuy nhiên, khi K mới vận chuyển hàng đến đầu ngõ 12 Hàng Hành thì bị Cơ quan điều tra kiểm tra phát hiện như đã nêu trên. Đối với số thuốc lá được cất giữ trong thùng carton dán kín, D không nói cho K biết bên trong thùng hàng có gì khi thuê K vận chuyển. D cũng không nói cho ai biết về số thuốc lá D cất giấu tại nơi ở.
Như vậy, căn cứ vào Kết luận giám định, tang vật thu giữ gồm 1820 bao thuốc lá điếu (mỗi bao có 20 điếu) và 2275 gam thuốc lá sợi (các dạng thuốc lá thành phẩm khác nhập lậu), căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 Nghị định 185/CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy đổi (20 gam = 01 bao) nên 2275gam thuốc lá sợi là 113,75 bao. Tổng cộng thu giữ của D là 1820 bao thuốc lá điếu + 113,75 bao (quy đổi) = 1.933,75 bao thuốc lá điếu nhập lậu.
Phan Văn K khai: K từng được D thuê vận chuyển quần áo và mỹ phẩm cho khách. Ngày 13/01/2019, D thuê K vận chuyển 01 thùng carton và trả công 20.000 đồng. Khi được thuê, K không biết cũng không hỏi bên trong thùng chứa hàng hóa gì do nghĩ bên trong chứa quần áo và mỹ phẩm. K không được hưởng lợi ích gì từ việc vận chuyển thuốc lá cho D nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Chị Đoàn Thị Minh D1 là vợ của Lê Hoàng D khai không biết cũng không liên quan gì đến việc mua bán thuốc lá của D. Khi chị D1 hỏi D về các thùng carton để trong nhà, D nói với chị D1 bên trong các thùng carton là quần áo, mỹ phẩm xách tay nên chị D1 không hỏi thêm nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với các đối tượng đã bán thuốc lá cho D, do D khai không biết tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.
Tại bản cáo trạng số 99/CT-VKS ngày 07/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Lê Hoàng D về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Lê Hoàng D khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật sự xử phạt bị cáo Lê Hoàng D từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số lượng thuốc lá do nước ngoài sản xuất thu giữ của D
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lê Hoàng D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với tang vật chứng đã thu giữ, đồng thời căn cứ vào Bản kết luận giám định số 557/KLGĐ-PC09 ngày 20/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
Toàn bộ 440 bao thuốc lá (mỗi bao có 20 điếu thu giữ của Phan Văn K) và 1380 bao thuốc lá (mỗi bao có 20 điếu thu giữ tại chỗ ở của D) đều là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất. Toàn bộ 55 gói thuốc lá sợi đều là thuốc lá sợi do nước ngoài sản xuất. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 12 giờ 55 phút ngày 13/01/2019, Lê Hoàng D đang có hành vi buôn bán hàng cấm là 1820 bao thuốc lá điếu (mỗi bao có 20 điếu) đều là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất và 55 gói thuốc lá sợi (đều là thuốc lá sợi do nước ngoài sản xuất) có tổng trọngi lượng 2.275 gam, quy đổi theo Nghị định 185/CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ (20g = 01 bao) là 113,75 bao thuốc lá. Tổng số lượng D buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu là 1.933,75 bao thì bị phát hiện thu giữ cùng tang vật tại ngõ 12 Hàng Hành, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Hành vi của bị cáo Lê Hoàng D đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 điều 190 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Hành vi buôn bán 1.933,75 bao thuốc lá điếu nhập lậu của bị cáo là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước được quy định trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Bị cáo đã trưởng thành đáng lẽ phải hiểu được các quy định của pháp luật trong lĩnh sản xuất, kinh doanh, thương mại, tuy nhiên bị cáo vì ham lợi nhuận nên cố ý thực hiện hành vi phạm tội lần này. Xét thấy, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo cũng như phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo lần đầu phạm tôi và bị đưa ra xét xử, khi bị phát hiện đã kịp thời đến khai báo, giao nộp cho quan điều tra thu giữ hàng phạm pháp nên khi áp dụng hình phạt cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
Xử lý vật chứng: + Tịch thu tiêu hủy toàn bộ thuốc là điếu và thuốc lá sợi do nước ngoài sản xuất đã thu giữ của D. Về số tiền lời thu được do bán 180 cây thuốc là nhập lậu là 2000 đồng/bao x 180 bao = 360.000 đồng cần truy thu của bị cáo để sung công quỹ Nhà nước
Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hợp pháp
Vì các lẽ trên:,
QuyÕt ®Þnh
1. Tuyên bố: Lê Hoàng D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
2. Áp dụng:
+ Điểm b Khoản 1 điều 190, Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự
+ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, 135, 331, 333 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015
+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
3. Xử phạt: Lê Hoàng D 15(mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H T, quận H(nơi bị cáo cư trú) để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Tang vật: Tịch thu tiêu hủy:
- 90 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu RAISON SUN FRESSO(sau khi đã trừ đi 10 bao lấy mẫu giám định)
- 90 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu AFRICA RULA(sau khi đã trừ đi 10 bao lấy mẫu giám định)
- 200 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 GOLD(sau khi đã trừ đi 10 bao lấy mẫu giám định)
- 400 bao thuốc lá nhãn hiệu CASTER 5 (sau khi đã trừ đi 50 bao lấy mẫu giám định)
- 20 bao thuốc lá nhãn hiệu WINSTON CASTER WHITE 3mg (sau khi đã trừ đi 10 bao lấy mẫu giám định)
- 180 bao thuốc lá nhãn hiệu 555 GOLD (sau khi đã trừ đi 10 bao lấy mẫu giám định)
- 220 bao thuốc lá nhãn hiệu 555 ORIGINAL (sau khi đã trừ đi 60 bao lấy mẫu giám định)
- 80 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE SPECIAL GOLD(sau khi đã trừ đi 20 bao lấy mẫu giám định)
- 200 bao thuốc lá nhãn hiệu WINSTON CASTER WHITE 5mg(sau khi đã trừ đi 40 bao lấy mẫu giám định
- 20 bao thuốc lá nhãn hiệu BOHEM(sau khi đã trừ đi 10 bao lấy mẫu giám
định)
- 08 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE CHANGE UP(sau khi đã trừ đi 02 bao lấy mẫu giám định)
- 1020 gam thuốc lá sợi nhãn hiệu CAPTAIN BLACK 42,5mg(sau khi đã trừ đi 255 gam lấy mẫu giám định)
- 800 gam thuốc lá sợi nhãn hiệu ORIGINAL CHOICE 40mg(sau khi đã trừ đi 200 gam lấy mẫu giám định).
Tang vật hiện giữa tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 17/5/2019
* Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 360.000 đồng thu lời bất chính để sung công quỹ Nhà nước
5. Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND quận Hoàn Kiếm; - Chi cục THA q. Hoàn Kiếm; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Đồng Trưng |