vanban.org

Bản án 105/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 105/2017/HSST Tuyên án 17/07/2017
Phúc thẩm Bản án 599/2017/HSPT Tuyên án 22/11/2017

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_____________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:105/2017/HSST
Ngày 17 tháng 7 năm 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Quang Cảnh

2. Ông Hồ Lê Hưng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Trang – Cán bộ Tòa án

nhân dân quận T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà

Huỳnh Túy Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2017, Tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H xét

xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2017/HSST, ngày 30/05/2017 đối với

bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1991, tại: Đ; HKTT: Ấp 3, L, huyện T, tỉnh Đ; chỗ ở:

160/19 K, phường P, quận T, Tp. H; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân

tộc: Kinh; nghề nghiệp: không; con ông: Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Bạch L; vợ,

con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo tại ngoại.( Có mặt ).

* Người bị hại:

1/ Ông Hồ Văn Đ, sinh năm: 1987; trú tại: số 314 B, phường P, quận T, Tp.

H.(vắng mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo Trần Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố H truy tố về

hành vi như sau:

Khoảng 01 giờ 00 ngày 09/01/2017 sau khi nhậu, đang đi bộ về nhà thì Trần

Văn T phát hiện trước nhà số 314 B, phường P, quận T có dựng 01 xe gắn máy hiệu

Yamaha biển số 59D1-178.27 của anh Hồ Văn Đ chìa khóa vẫn cắm trong ổ điện. Trần Văn T nảy sinh ý định trộm cắp nên lén lút lại gần, lấy trộm xe, quay đầu ra hướng đường B đẩy xe ra cửa được 5m định tẩu thoát thì bị anh Hồ Văn Đ phát hiện tri hô…Trần Văn T bỏ lại xe, bỏ chạy đến trước số nhà 300 B, phường P, quận Tthì bị bắt giữ giao cho Công an phường P xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn T đã khai nhận hành vi trộm cắp như trên.

 Vật chứng:

- 01 xe máy hiệu Yamaha Nouvo, biển số 59D1-178.27 của anh Hồ Văn Đ, Cơ

quan Cảnh sát điều tra – Công an quận T đã trả chiếc xe trên cho anh Đ.

- 01 điện thoại di động Nokia C3, màu vang số Imei: 353265051637074.

- 01 áo sơ mi dài tay màu hồng, 01 quần dai màu xanh.

Tại bản cáo trạng số: 82/CT-VKS, ngày 25/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân

Quận T, Thành phố H thì bị cáo Trần Văn T bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên,

không có oan sai. Nguyên nhân phạm tội là thấy có tài sản nên nổi long tham.

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 9 tháng đến 12

tháng tù về tội danh theo điều khoản như cáo trạng truy tố.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào

kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại cơ quan điều tra, cũng như trước phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Văn T đã thừa

nhận hành vi phạm tội của mình. Qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy bị cáo T có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Khoảng 01 giờ 00 ngày 09/01/2017 đã lén lút lấy 01 xe gắn máy hiệu Yamaha biển số 59D1-178.27 trị giá 14.000.000 đồng của anh Hồ Văn Đ, khi vừa đẩy xe đi ra đến cửa định tẩu thoát thì bị anh Đ phát hiện tri hô bắt giữ giao cho Công an phường P xử lý. Hành vi của bị cáo T là “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng truy tố bị cáo là có cơ sở.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài

sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến công tác giữ gìn trật tự xã hội.

Căn cứ vào vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy

cần có một mức án nghiêm dành cho bị cáo mới phát huy được tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xét các tình tiết giảm nhẹ như

thái độ khai báo của bị cáo tỏ ra thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại gây hậu quả không lớn. Nên cần giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Vật chứng:

- 01 xe máy hiệu Yamaha Nouvo, biển số 59D1-178.27 của anh Hồ Văn Đ, Cơ

quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Tđã trả chiếc xe trên cho anh Đ. anh Đ không

yêu cầu gì nên không xem xét.

- 01 điện thoại di động Nokia C3, màu vang số Imei: 353265051637074 và 01

áo sơ mi dài tay màu hồng, 01 quần dài màu xanh. Là tài sản của bị cáo xét nên trả lại

cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 138, Điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi

chấp hành án.

Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Trả lại cho Trần Văn T 01 điện thoại di động Nokia C3, màu vàng số Imei:

353265051637074 và 01 áo sơ mi dài tay màu hồng, 01 quần dài màu xanh.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 92/PNK ngày 20 tháng 01 năm 2017

tại kho vật chứng Công an quận T).

Áp dụng Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

Buộc bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm ngàn

đồng).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản

án, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận

được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.

Cỡ chữ