vanban.org

Bản án 103/2024/DS-ST — Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 07/08/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào Điều 119, 274, 275, 280, 430, 431, 440, 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc Sỹ đối với bị đơn ông Vũ Đình Phương Bình về việc “Vi phạm nghĩa vụ thánh toán trong hợp đồng mua bán tài sản”. Buộc ông Vũ Đình Phương Bình phải trả cho ông Nguyễn Quốc Sỹ tổng số tiền là 657.064.235đ (Trong đó, tiền nợ gốc là 432.991.600đ,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào Điều 119, 274, 275, 280, 430, 431, 440, 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/DS-ST.
Ngày: 07/8/2024.
V/v: “Vi phạm nghĩa vụ thanh toán
trong hợp đồng mua bán tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Đào

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí

Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 947/2023/TLST-DS, ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc “Vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 429/2024/QĐST-DS, ngày 08/7/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc S, sinh năm: 1974.

Địa chỉ: Số 90A Lý Nam Đế, phường Trà Bá, thành phố Pleiku, Gia Lai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình Q, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Số 398 Thạch Lam, phường Phú Thạnh, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Vũ Đình Phương B, sinh năm:

Địa chỉ: Số 4/3C, tổ 10, khu phố 1, phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

(Ông Quang có đơn xin vắng mặt, ông Bình vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Đình Quang trình bày:

Ngày 11/6/2018, ông Nguyễn Quốc Sỹ và ông Vũ Đình Phương Bình có thỏa thuận bằng lời nói để mua bán nguyên liệu phôi gỗ. Thực hiện thảo thuận trên từ ngày 11/6/2018 đến ngày 18/8/2018 ông Sỹ đã giao cho ông Bình số lượng phôi gỗ tương ứng với số tiền là 1.854.871.600đ. Ông Bình đã thanh toán cho ông Sỹ số tiền 1.421.880.000đ. Sau đó, ông Bình ngưng không tiếp tục thanh toán số tiền còn lại cho ông Sỹ nữa. Ngày 06/11/2018, ông Sỹ đã chốt công nợ số tiền ông Bình còn thiếu là 432.991.600đ.

Ngày 29/6/2023, ông Bình ký xác nhận còn nợ ông Sỹ số tiền 432.991.600đ. Đồng thời, ông Bình cam kết sẽ trả cho ông Sỹ mỗi tháng là 20.000.000đ trả vào ngày 15 hàng tháng và bắt đầu thanh toán vào ngày 15/7/2023. Tuy nhiên, sau khi xác nhận công nợ xong ông Bình không thực hiện việc trả nợ cho ông Sỹ như đã cam kết. Nay ông Sỹ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên buộc ông Vũ Đình Phương Bình có trách nhiệm trả cho ông Sỹ số tiền nợ gốc là 432.991.600đ và lãi suất theo mức 9%/năm kể từ ngày 07/11/2018 đến ngày 07/8/2024 là 05 năm 09 tháng với tổng số tiền là 224.072.635đ. Buộc ông Bình phải trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Đối với bị đơn ông Vũ Đình Phương Bình đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại các buổi làm việc, hòa giải và các phiên tòa nên không có lời trình bày.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc Sỹ đối với bị đơn ông Vũ Đình Phương Bình. Buộc ông Vũ Bình Phương Bình phải trả cho ông Nguyễn Quốc Sỹ số tiền nợ gốc là 432.991.600đ và lãi suất theo mức 9%/năm kể từ ngày 07/11/2018 đến ngày 07/8/2024 theo đúng quy định của pháp luật. Về án phí ông Bình phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về và quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Ông Nguyễn Quốc Sỹ khởi kiện yêu cầu ông Vũ Đình Phương Bình phải trả cho ông Sỹ số tiền nợ gốc đã mua phôi gỗ là là 432.991.600đ và lãi suất theo mức 9%/năm kể từ ngày 07/11/2018 đến ngày 07/8/2024 là 05 năm 09 tháng với tổng số tiền là 224.072.635đ nên căn cứ vào Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán tài sản”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định ông Nguyễn Quốc Sỹ là nguyên đơn, ông Vũ Đình Phương Bình là bị đơn trong vụ án.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Vũ Đình Phương Bình hiện đang sinh sống tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai căn cứ vào Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Về thủ tục tố tụng khác: Ngày 07/6/2024, ông Nguyễn Đình Quang là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Quốc Sỹ có đơn xin vắng mặt, ông Vũ Đình Phương Bình đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt ông Quang, ông Bình.

Về nội dung: Ông Nguyễn Quốc Sỹ khởi kiện yêu cầu ông Vũ Đình Phương Bình phải trả cho ông Sỹ số tiền nợ gốc đã mua phôi gỗ là là 432.991.600đ và lãi suất theo mức 9%/năm kể từ ngày 07/11/2018 đến ngày 07/8/2024 là 05 năm 09 tháng với tổng số tiền là 224.072.635đ.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Sỹ là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ, ông Sỹ khởi kiện và cung cấp được chứng cứ là biên bản chốt công nợ trong đó thể hiện nội dung xác nhận nợ của ông Vũ Đình Phương Bình ngày 29/6/2023 đúng số tiền nợ gốc mà ông Sỹ đang khởi kiện ông Bình (Bút lục 04, 05). Như vậy, việc mua bán hàng hóa là phôi gỗ giữa ông Sỹ và ông Bình cũng như việc ông Bình đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho ông Sỹ là có thật.

Ông Sỹ yêu cầu Tòa án buộc ông Bình phải trả tiền lãi suất chậm trả theo mức lãi suất 9%/năm kể từ ngày 07/11/2018 đến ngày 07/8/2024 là: 05 năm 09 tháng x 9%/năm x 432.991.600đ = 224.072.635đ là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Theo phiếu xác minh tại Công an phường Tân Hiệp ngày 18/3/2024 (Bút lục 39) xác định ông Vũ Đình Phương Bình không đăng ký thường trú, không đăng ký tạm trú tại địa phương nhưng thực tế ông Bình đang sinh sống tại số 4/3C, tổ 10, khu phố 1, phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa. Tòa án đã tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng cho ông Bình theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông Bình không đến Tòa để làm việc, cung cấp chứng cứ, hòa giải và xét xử nên được coi là trường hợp bỏ mặc việc Tòa án giải quyết tranh chấp giữa ông và ông Sỹ và mặc nhiên thừa nhận nợ.

Về án phí: Ông Vũ Đình Phương Bình phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 30.282.564đ. Ông Nguyễn Quốc Sỹ được nhận lại số tiền 15.014.392đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009373 ngày 01/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, 68, Điều 147; Điều 203, Điều 220, Điều 227, 228, Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng vào Điều 119, 274, 275, 280, 430, 431, 440, 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc Sỹ đối với bị đơn ông Vũ Đình Phương Bình về việc “Vi phạm nghĩa vụ thánh toán trong hợp đồng mua bán tài sản”.

Buộc ông Vũ Đình Phương Bình phải trả cho ông Nguyễn Quốc Sỹ tổng số tiền là 657.064.235đ (Trong đó, tiền nợ gốc là 432.991.600đ, nợ lãi là 224.072.635đ).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí: Ông Vũ Đình Phương Bình phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 30.282.564đ. Ông Nguyễn Quốc Sỹ được nhận lại số tiền 15.014.392đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009373 ngày 01/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ