- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần T và đồng phạm phạm tội tổ chức đánh bạc, đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thành T phạm tội Tổ chức đánh bạc; các bị cáo Nguyễn Hữu H, Liễu Thanh T, Trần L, Vi Trung A phạm tội Đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2020/HS-ST Ngày 25-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Hồng Thu
Ông Nguyễn Nhật Chiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Lành Thị Thanh Nụ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Trần Thành T; tên gọi khác: Không có, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1993 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Đường B, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 10/12; con bà Trần Thị Hải B; vợ con: Chưa có;
Tiền án: Có 01 tiền án. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2018/HSST ngày 07/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt bị cáo 12 tháng tù giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2009, bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng theo Quyết định số 1413/QĐ-XPHC ngày 04/6/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố Lạng Sơn; năm 2011, bị cáo bị Công an thành phố Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 375.000 đồng về hành vi đánh nhau theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02364/QĐ-XPVPHC ngày 26/5/2011; năm 2014, bị cáo bị Công an phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03976/QĐ-XPVPHC ngày 22/11/2014 và bị Công an thành phố Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04527/QĐ-XPVPHC ngày 10/11/2014; năm 2015, bị cáo bị Công an thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Đánh nhau theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 252/QĐ-XPHC ngày 14/02/2015 và bị Công an thành phố Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01288/QĐ-XPVPHC ngày 02/7/2015; năm 2017, bị cáo bị Công an phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 950.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03024/QĐ-XPVPHC ngày 25/10/2017 (đều đã được xóa tiền sự);
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2020cho đến nay. Có mặt.
2. Nguyễn Hữu H; tên gọi khác: Không có, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1994 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Đường T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Hữu H1 và bà Nguyễn Kim A; vợ con: Chưa có;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2017, bị cáo bị Công an thành phố Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03372/QĐ-XPVPHC ngày 19/3/2017 (đã được xóa tiền sự);
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/01/2020 cho đến nay.
3. Liễu Thanh T; tên gọi khác: Không có, sinh ngày 02 tháng 7 năm 1994 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Nùng; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Liễu Như M và bà Trần Thị N; vợ con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2012/HS-ST ngày 28/12/2012 của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội Cố ý gây thương tích (đã được xóa án tích); năm 2007, bị cáo bị Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 14/5/2007; năm 2011, bị cáo bị Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi Tàng trữ pháo nổ trái phép theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XLHC ngày 23/02/2011 (đều đã được xóa tiền sự);
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/01/2020 cho đến nay. Có mặt.
4. Trần L; (tên gọi khác Trần Đức L, Ku L) sinh ngày 11 tháng 11 năm 1991 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Đường M, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 06/12; con ông Trần Đức T (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; vợ con: Có vợ là Hoàng Thanh H, chưa có con;
Tiền án: Có 01 tiền án. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 112/2018/HS-ST ngày 30/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt bị cáo 07 tháng tù về tội Bắt người trái pháp luật;
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 95/2009/HS-ST ngày 19/8/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 06 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2018/HS-ST ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 04 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật (đều đã được xóa án tích); năm 2004 bị cáo bị Ủy ban nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 830/QĐ-UB ngày 25/08/2004; năm 2017, bị cáo bị Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 00885/QĐ-XPVPHC ngày 25/12/2017 (đều đã được xóa tiền sự);
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2020 cho đến nay. Có mặt.
5. Vi Trung A; tên gọi khác: Không có, sinh ngày 03 tháng 3 năm 1987 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Nùng; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Vi Văn L và bà Lục Thị M; vợ con: Có vợ là Hoàng Thị X và 01 con sinh năm 2019;
Tiền án: Có 01 tiền án. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 112/2018/HS-ST ngày 30/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt bị cáo 07 tháng tù về tội Bắt người trái pháp luật;
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 43/2018/HS-ST ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 04 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật (đã được xóa án tích); năm 2017, bị cáo bị Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01038/QĐ-XPVPHC ngày 25/12/2017 (đều đã được xóa tiền sự);
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2020 cho đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Hoàng Thanh H, địa chỉ: Đường M, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Phạm Đình V. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 9 năm 2019, Trần Thành T đã sử dụng mạng Internet truy cập trang mạng "bong 88.com" đăng nhập tài khoản QZ3ITM02000 và tạo 05 tài khoản cho Nguyễn Hữu H, Liễu Thanh T, Trần L, Vi Trung A để tổ chức đánh bạc ăn thua bằng tiền. Tổng số tiền Trần Thành T đã tổ chức đánh bạc với Nguyễn Hữu H, Liễu Thanh T, Vi Trung A là 75.890.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Hữu H đánh bạc với Liễu Thanh T là 72.075.000 đồng. Tổng số tiền Trần Thành T tổ chức đánh bạc với Trần L là 18.600.000 đồng. Tổng số tiền Trần Thành T tổ chức đánh bạc với Vi Trung A qua 03 tài khoản là 28.460.000 đồng, cụ thể như sau:
- Hành vi cá cược bóng đá của Nguyễn Hữu H, Liễu Thanh T với Trần Thành T:
Trần Thành T quy ước với Nguyễn Hữu H 01 đô (điểm) tương ứng 20.000 đồng. Nguyễn Hữu H quy ước với Liễu Thanh T 01 đô (điểm) tương ứng 50.000 đồng. Trận bóng đá SEA GAMES 2019 MEN FOOTBALL U22, trận Cambodia U22 gặp Timor Leste U22 ngày 27/11/2019, Liễu Thanh T cược 05 lần. Lần thứ nhất cược chấp Cambodia U22 -0.5 (4-0) là 150 điểm, tỷ lệ cược - 0.93MY (thua chỉ mất 93% số tiền cược), Trần Thành T tính với Nguyễn Hữu H thành tiền cược 2.790.000đồng, Nguyễn Hữu H tính với Liễu Thanh T thành tiền cược 6.975.000 đồng; lần cược này Liễu Thanh T thắng 150.00 điểm, Trần Thành T tính với Nguyễn Hữu H thành tiền 3.000.000 đồng, Nguyễn Hữu H tính với Liễu Thanh T thành tiền 7.500.000 đồng. Lần thứ hai cược như lần thứ nhất là 200 điểm, tỷ lệ cược -0,93MY (thua chỉ mất 93% số tiền cược), Trần Thành T tính với Nguyễn Hữu H thành tiền cược 3.720.000 đồng, Nguyễn Hữu H tính với Liễu Thanh T thành tiền 9.300.000đồng; lần cược này Liễu Thanh T thắng 200.00 điểm, Trần Thành T tính với Nguyễn Hữu H thành tiền 4.000.000 đồng, Nguyễn Hữu H tính với Liễu Thanh T thành tiền 10.000.000 đồng. Lần thứ ba cược chấp Cambodia U22 -0.5 (3-0) là 200 điểm, tỷ lệ cược 0,93MY (thắng được 93% số tiền cược), Trần Thành T tính với Nguyễn Hữu H thành tiền cược 4.000.000 đồng, Nguyễn Hữu H tính với Liễu Thanh T thành tiền cược 10.000.000 đồng; lần cược này Liễu Thanh T thắng 186.00 điểm, Trần Thành T tính với Nguyễn Hữu H thành tiền 3.720.000 đồng, Nguyễn Hữu H tính với Liễu Thành Tùng thành tiền 9.300.000 đồng. Lần thứ tư cược xỉu 2.75 (0-0) là 200 điểm, tỷ lệ cược 0,89MY (thắng được 89% số tiền cược), Trần Thành T tính với Nguyễn Hữu H thành tiền cược 4.000.000 đồng, Nguyễn Hữu H tính với Liễu Thanh T thành tiền cược 10.000.000 đồng; lần cược này Liễu Thanh T thua - 200.00 điểm, Trần Thành T tính với Nguyễn Hữu H thành tiền 4.000.000 đồng, Nguyễn Hữu H tính với Liễu Thanh T thành tiền 10.000.000 đồng. Lần thứ năm cược xỉu 2.5 (0-0) là 200 điểm, tỷ lệ cược -0,9MY (thua chỉ mất 90% số tiền cược), Trần Thành T tính với Nguyễn Hữu H thành tiền cược 3.600.000 đồng, Nguyễn Hữu H tính với Liễu Thanh T thành tiền cược 9.000.000 đồng; lần cược này Liễu Thanh T thua -180.00 điểm, Trần Thành T tính với Nguyễn Hữu H 3.600.000 đồng, Nguyễn Hữu H tính với Liễu Thanh T thành tiền 9.000.000 đồng.
Tổng cộng trong trận bóng này, Nguyễn Hữu H nhận tiền cược từ Liễu Thanh T là 45.275.000 đồng, chuyển cho Trần Thành T là 18.110.000 đồng, Liễu Thanh T thắng tổng cộng 26.800.000 đồng, trong đó Trần Thành T thua 10.720.000 đồng, còn Nguyễn Hữu H thua 16.080.000 đồng; Liễu Thanh T thua 19.000.000 đồng, trong đó Trần Thành T được 7.600.000 đồng, Nguyễn Hữu H được 11.400.000 đồng.
- Hành vi cá cược bóng đá của Trần L với Trần Thành T:
Trần Thành T quy ước với Trần L 01 đô (điểm) tương ứng 100.000 đồng. Trận bóng đá SEA GAMES 2019 MEN FOOTBALL U22, trận Vietnam U22 gặp Indonesia U22 ngày 10/12/2019; Trần L cược 02 lần. Lần thứ nhất cược chấp Vietnam U22 -0,75 là 50 điểm, tỷ lệ cược 0.87MY (thắng được 87% số tiền cược), Trần Thành T tính với Trần L thành tiền cược 5.000.000 đồng; lần cược này Luân thắng 43.50, thành tiền 4.350.000VNĐ. Lần thứ hai cược như lần thứ nhất 50 điểm, tỷ lệ cược 0,85MY (thắng được 85% số tiền cược), Trần Thành T tính với Trần L thành tiền cược 5.000.000 đồng, lần cược này Trần L thắng 42.50, thành tiền 4.250.000 đồng. Tổng cộng số tiền cá cược trong trận bóng này là 10.000.000 đồng; số tiền thắng là 8.600.000 đồng.
- Hành vi cá cược bóng đá của Vi Trung A với Trần Thành T:
Trong thời gian trên, Vi Trung A đã liên hệ và được Trần Thành T cấp cho 03 tài khoản và đã tham gia đánh bạc với Trần Thành T. Cụ thể:
*Tài khoản QZ3ITM02002: Vi Trung A quy ước với Trần Thành T 01 đô (điểm) bằng 100.000 đồng. Trận bóng đá SAUDI PREMIER LEAGUE U19, trận Al Ahli (KSA) gặp Al Taee Hail ngày 09/12/2019, Vi Trung A cược 03 lần. Lần thứ nhất cược chấp Al Taee Hail U19 0.5 (3-0) là 15 điểm, tỷ lệ cược 1MY (thắng được 100% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 1.500.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thua -15.00 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 1.500.000 đồng. Lần thứ hai cược hiệp 1 chấp Al Taee Hail U19 0.25 (1-0) là 20 điểm, tỷ lệ cược 0,92MY (thắng được 92% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 2.000.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thua -20.00 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 2.000.000 đồng. Lần thứ ba cược tài 2 (1-0) là 20 điểm, tỷ lệ cược 0,99MY (thắng được 99% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 2.000.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thắng 19.80 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 1.980.000 đồng. Tổng cộng trong trận bóng này, Vi Trung A đặt cược tổng số tiền 5.500.000 đồng; thắng số tiền 1.980.000 đồng.
Trận bóng đá SEA GAMES 2019 MEN FOOTBALL U22, trận Indonesia gặp Brunei Darussalam; Vi Trung A cược 02 lần. Lần thứ nhất cược chấp Indonesia U22 -3 (1-0) là 20 điểm, tỷ lệ cược -0.99 (thua chỉ mất 99% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 1.980.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thắng 20 điểm, thành tiền 2.000.000 đồng. Lần thứ hai cược tài 6 là 20 điểm, tỷ lệ cược -0.91 (thua chỉ mất 91% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 1.820.000 đồng, lần cược này Vi Trung A thắng 20 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 2.000.000 đồng. Tổng cộng trong trận bóng này, Vi Trung A cược tổng số tiền 3.800.000 đồng, thắng 4.000.000 đồng.
* Tài khoản QZ3ITM02003: Vi Trung A quy ước với Trần Thành T 01 đô (điểm) bằng 50.000 đồng. Trận bóng đá SEA GAMES 2019 MEN FOOTBALL U22, trận Việt Nam gặp Thailand ngày 05/12/2019; Vi Trung A cược 08 lẩn. Lần thứ nhất cược chấp Việt Nam U22 -0.25 (1-2) là 10 điểm, tỷ lệ cược 0,81MY (thắng được 81% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 500.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thắng 8.10 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 405.000 đồng. Lần thứ hai cược tài 4 (1-2) là 30 điểm, tỷ lệ cược 0,89MY (thắng được 89% số tiền cược) Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 1.500.000 đồng; lần cược này hòa. Lần thứ ba cược tài 4.25 (1-2) là 20 điểm, tỷ lệ cược 0,97MY (thắng được 97% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 1.000.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thua 10.00 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 500.000 đồng. Lần thứ tư cược tài 4.5 (1-2) là 30 điểm, tỷ lệ cược 0,98MY (thắng được 98% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 1.500.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thua 30.00 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 1.500.000 đồng. Lần thứ năm cược xỉu 3.75 (0-2) là 20 điểm, tỷ lệ cược 0,99MY (thắng được 99% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 1.000.000 đồng; lần cược này bị từ chối. Lần thứ sáu cược chấp Việt Nam U22 -0,25 là 20 điểm, tỷ lệ cược 0,96MY (thắng được 96% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 1.000.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thua 10.00 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 500.000 đồng. Lần thứ bảy cược tài 0.75 hiệp 1 là 30 điểm, tỷ lệ cược 0,9MY (thắng được 90% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 1.500.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thắng được 27.00 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 1.350.000 đồng. Lần thứ tám cược tài 2 là 30 điểm, tỷ lệ cược 0,92MY (thắng được 92% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 1.500.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thắng 27.60 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 1.380.000 đồng. Tổng số tiền Vi Trung A cược trong trận bóng này là 8.500.000 đồng; số tiền thắng là 3.135.000 đồng.
Trận bóng đá SEA GAMES 2019 MEN FOOTBALL U22, trận Myanmar gặp Cambodia ngày 02/12/2019; Vi Trung A cược 04 lần. Lần thứ nhất cược chấp Myanmar U22 -0.25 (1-1) là 10 điểm, tỷ lệ cược -0,98MY (thua chỉ mất 98% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 490.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thắng 10.00 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 500.000 đồng. Lần thứ hai cược tài 3 (1-1) là 30 điểm, tỷ lệ cược -0,96MY (thua chỉ mất 96% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 1.440.000 đồng; lần cược này hòa. Lần thứ ba cược tài 1(0-0) là 20 điểm, tỷ lệ cược -0,94MY (thua chỉ mất 94% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 940.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thắng 20.00 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 1.000.000 đồng. Lần thứ tư cược tài 2.5 (0-0) là 50 điểm, tỷ lệ cược -0,99MY (thua chỉ mất 99% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 2.475.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thắng 50.00 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 2.500.000 đồng. Tổng số tiền cược trong trận bóng này là 5.345.000 đồng; số tiền thắng là 4.000.000 đồng.
* Tài khoản QZ3ITM02005: Vi Trung A quy ước với Trần Thành T 01 đô (điểm) bằng 50.000VNĐ. Trận bóng có số lượng tiền cá cược cao nhất: Bóng rổ Russia Basketball Super League 2 Women, trận bóng giữa đội tuyển Dynamo Novosibirsk 2 với BC Enisey Krasnoyarsk 2 ngày 19/12/2019; Vi Trung A cược 10 lần. Lần thứ nhất cược xỉu 118.5 (trực tiếp) 3 điểm, tỷ lệ cược 0,74MY (thắng được 74% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 150.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thắng 2.22 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 111.000 đồng. Lần thứ hai cược tài 120.5 (trực tiếp) 3 điểm, tỷ lệ cược 0.91MY (thắng được 91% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 150.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thua -3.00, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 150.000 đồng. Lần thứ ba cược xỉu 123.5 (trực tiếp) 3 điểm, tỷ lệ cược 0,85MY (thắng được 85% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 150.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thắng 2.55 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 127.500 đồng. Lần thứ tư cược xỉu 122.5 (trực tiếp) 3 điểm, tỷ lệ cược 81MY (thắng được 81% số tiền cược), lần cược này bị từ chối; Lần thứ năm cược tài 120.5 (trực tiếp) 10 điểm, tỷ lệ cược 0.9MY (thắng được 90% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 500.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thắng 9.00 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 450.000 đồng. Lần thứ sáu cược xỉu 126.5 (trực tiếp) 10 điểm, tỷ lệ cược 0,76MY (thắng được 76% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 500.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thắng 7.60 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 380.000 đồng. Lần thứ bảy cược xỉu 122.5 (trực tiếp) 10 điểm, tỷ lệ cược 0,94MY (thắng được 94% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 500.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thua -10.00 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 500.000 đồng. Lần thứ tám cược chấp là 3 điểm, tỷ lệ cược 0,93MY (thắng được 93% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 150.000 đồng; lần cược này Vi Trung A thắng 2.79, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 139.500 đồng. Lần thứ chín cược chấp là 3 điểm, tỷ lệ cược 0.83MY (thắng được 83% số tiền cược), Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền cược 150.000 đồng,; lần cược này Vi Trung A thắng 2.49 điểm, Trần Thành T tính với Vi Trung A thành tiền 124.500 đồng. Lần thứ mười cược chấp 3 điểm, tỷ lệ cược 0.83 MY (thắng được 83% số tiền cược), lần cược này bị từ chối. Tổng số tiền Vi Trung A cược trong trận bóng này là 2.250.000 đồng; số tiền thắng là 1.332.500 đồng.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ của Nguyễn Hữu H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X; thu giữ của Trần L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max kèm sim thuê bao 0823111191, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ACER; thu giữ của Vi Trung A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, kèm sim thuê bao 0972018133.
Phong tỏa tài khoản của Liễu Thanh T có 21.509.904 đồng, tài khoản của Nguyễn Hữu H có 345.138.560 đồng.
Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKS-P2 ngày 26 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Trần Thành T về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu H, Liễu Thanh T về tội Đánh bạc theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Trần L, Vi Trung A về tội Đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thanh H trình bày tại phiên tòa: Chị là vợ của bị cáo Trần L, chiếc máy tính xách tay cơ quan công an thu giữ tại phòng ngủ là của chị mua để sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Trần L, nay chị đề nghị cho xin lại để gia đình sử dụng.
Người làm chứng anh Phạm Đình V khai: Anh có cấp cho Nguyễn Hữu H tài khoản "cty 9494" trên trang mạng viet88.net. Thỉnh thoảng, Nguyễn Hữu H tham gia góp phần trăm chịu thắng, thua với anh đối với tài khoản nêu trên để nhận 2%. Do Nguyễn Hữu H không tham gia thường xuyên nên anh không xác định được số tiền Nguyễn Hữu H sử dụng để đánh bạc và số tiền thắng thua.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thành T phạm tội Tổ chức đánh bạc, bị cáo Nguyễn Hữu H, Liễu Thanh T, Trần L, Vi Trung A phạm tội Đánh bạc. Áp dụng điểm c khoản 2, 3 Điều 322; điểm s, t khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thành T từ 05 đến 06 năm tù. Áp dụng điểm b, c khoản 2, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 54, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H từ 18 đến 24 tháng tù; Liễu Thanh T từ 24 đến 30 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 2, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; 38, của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần L từ 36 đến 42 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 2, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vi Trung A từ 36 đến 42 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: phạt bị cáo Trần Thành T từ 20.000.000đồng đến 30.000.000đồng, các bị cáo còn lại mỗi bị cáo từ 10.000.000đồng đến 20.000.000đồng. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu hóa giá sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max kèm sim, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 kèm sim, trả lại cho chị Hoàng Thanh H 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ACER; truy thu số tiền sử dụng phạm tội và do phạm tội mà có của Trần Thành T 75.890.000đồng, Nguyễn Hữu H và Liễu Thanh T mỗi bị cáo là 72.075.000đồng, bị cáo Vi Trung A là 28.460.000đ, bị cáo Trần L là 18.600.000đồng. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, không ai có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 9 năm 2019, Trần Thành T đã sử dụng mạng Internet truy cập trang mạng "bong 88.com" đăng nhập tài khoản QZ3ITM02000 và tạo 05 tài khoản cho Nguyễn Hữu H, Liễu Thanh T, Trần L, Vi Trung A để tổ chức đánh bạc được thua bằng tiền với các bị cáo trên. Tổng số tiền Trần Thành T đã tổ chức đánh bạc với Nguyễn Hữu H, Trần L, Vi Trung A là 75.890.000 đồng. Nguyễn Hữu H đánh bạc với Liễu Thanh T với tổng số tiền là 72.075.000 đồng. Trần L đánh bạc với Trần Thành T với tổng số tiền là 18.600.000 đồng. Vi Trung A đánh bạc với Trần Thành T với tổng số tiền là 28.460.000 đồng. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Trần Thành T về tội Tổ chức đánh bạc theo điểm c khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Hữu H và Liễu Thanh T về tội Đánh bạc theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trần L và Vi Trung A về tội Đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh trật tự công cộng, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và gây thiệt hại về kinh tế. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tham gia đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp vì mục đích hám lợi cá nhân, mong muốn kiếm tiền một cách nhanh chóng, bất chấp pháp luật.
Về nhân thân: Các bị cáo Trần Thành T, Vi Trung A, Trần L, Liễu Thanh T có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử và nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, tuy đã chấp hành xong và được xóa án tích, xóa tiền sự nhưng các bị cáo không hối cải mà vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường, bất chấp pháp luật. Năm 2017, Nguyễn Hữu H bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Cố ý gây thương tích, đã thi hành xong và được xóa tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Thành T, Trần L, Vi Trung A có 01 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của các bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vi Trung A phạm tội hai lần trở lên nên áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra Trần Thành T tích cực giúp đỡ Cơ quan điều tra trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn có công văn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Hữu H đầu thú và có bà ngoại tên Nguyễn Thị Hiển được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo Trần L có ông nội là Trần Lê M được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, bị cáo Liễu Thanh T có ông nội Liễu Văn T được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo Trần L tác động gia đình tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn theo biên lai thu tiền số AA/2015/0006850 ngày 25/6/2020 là 10.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Hữu H theo biên lai AA/2015/006849 ngày 25/6/2020 là 10.000.000 đồng và bị cáo Liễu Thanh T theo biên lai số AA/2015/0006848 ngày 24/6/2020 là 20.000.000đồng nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Đây là vụ án tổ chức đánh bạc và đánh bạc có sử dụng công nghệ cao thông qua mạng internet, sử dụng tài khoản trên mạng để cá cược bóng đá, được thua bằng tiền, chi trả theo tỷ lệ quy định trước, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Trong vụ án này các bị cáo Nguyễn Hữu H và Liễu Thanh T đồng phạm giản đơn và các bị cáo còn lại là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, có sức khỏe nhưng lười lao động, ý thức được hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do hám lợi và coi thường pháp luật nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do đó hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật đó là cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo tu dưỡng rèn luyện bản thân và nhằm răn đe giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên để cá thể hóa trách nhiệm hình sự cần đánh giá vai trò cũng như các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân từng bị cáo: Bị cáo Trần Thành T là người tổ chức đánh bạc với các bị cáo còn lại nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự, bị cáo có một tình tiết tăng nặng tái phạm, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, và cơ quan điều tra có công văn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó nhằm thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước, tạo cơ hội cho bị cáo rèn luyện bản thân sớm hòa nhập cộng đồng, xét thấy cần xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp. Đối với 04 bị cáo còn lại cùng phạm tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên bị cáo Trần L và Vi Trung A mỗi bị cáo đều có 01 tăng nặng là tái phạm, bị cáo Vi Trung A phải chịu thêm tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần, bị cáo Trần L và Vi Trung A cùng có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo Trần L có hai tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cả hai đều có nhân thân xấu, do đó hai bị cáo Trần L và Vi Trung A phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn hai bị cáo còn lại và cần xử hai bị cáo Trần L và Vi Trung A ở mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp. Đối với bị cáo Liễu Thanh T và Nguyễn Hữu H đều không có tình tiết tăng nặng, trong quá điều tra, truy tố và xét xử đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Hữu H có 03 tình tiết giảm nhẹ, bị cáo Liễu Thanh T có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì vậy xét thấy có thể áp dụng cho hai bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để tạo điều kiện cho các bị cáo sớm hòa nhập xã hội và thể hiện tính khoan hồng của Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Cần phạt bị cáo Trần Thành T 20.000.000 đồng, các bị cáo Trần L, Vi Trung A, Nguyễn Hữu H, Liễu Thanh T mỗi bị cáo 10.000.000 đồng mới đủ sức răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Truy thu số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc của Trần Thành T 75.890.000 đồng, Nguyễn Hữu H và Liễu Thanh T mỗi bị cáo 72.075.000đồng, Vi Trung A 28.460.000 đồng, Trần L 18.600.000 đồng sung Ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình Sự, điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 03 điện thoại di động của bị cáo Nguyễn Hữu H, Vi Trung A, Trần L, trả lại một 01 máy tính xách tay cho chị Hoàng Thanh H (vợ bị cáo Trần L).
Tiếp tục duy trì lệnh phong tỏa đối với: Tài khoản số 190.33445939.01.1 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần K Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn mang tên Nguyễn Hữu H số tiền trong tài khoản 345.138.560 đồng theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 01/LPT-CSHS ngày 23/4/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn và biên bản phong tỏa tài khoản ngày 24/4/2020; tài khoản số 190.343.59040.01.9 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần K Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn mang tên Liễu Thanh T số tiền trong tài khoản 21.509.904 đồng theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 02/LPT-CSHS ngày 23/4/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn và biên bản phong tỏa tài khoản ngày 24/4/2020 để đảm bảo thi hành án.
Về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại, do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 2, 3 Điều 322, điểm s, t khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thành T;
Căn cứ vào điểm c khoản 2, 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần L, Vi Trung A. Riêng bị cáo Vi Trung A điểm g khoản 1 Điều 52, bị cáo Trần L khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm b, c khoản 2, 3 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 47, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu H, Liễu Thanh T;
Căn cứ vào điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 262; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thành T phạm tội Tổ chức đánh bạc; các bị cáo Nguyễn Hữu H, Liễu Thanh T, Trần L, Vi Trung A phạm tội Đánh bạc.
2. Hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trần Thành T 05 (năm) năm tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 06/01/2020;
Xử phạt bị cáo Trần L 03 (ba) năm tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 06/01/2020;
Xử phạt bị cáo Vi Trung A 03 (ba) năm tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 06/01/2020;
Xử phạt bị cáo Liễu Thanh T 02 (hai) năm tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08/01/2020.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08/01/2020;
* Phạt bổ sung bị cáo Trần Thành T 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), các bị cáo Trần L, Vi Trung A, Nguyễn Hữu H, Liễu Thanh T mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.
* Truy thu đối với bị cáo Trần Thành T 75.890.000 đồng (bảy mươi lăm triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng), Nguyễn Hữu H 72.075.000 đồng (bảy mươi hai triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), Liễu Thanh T 72.075.000 đồng (bảy mươi hai triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), Vi Trung A 28.460.000 đồng (hai mươi tám triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng), Trần L 18.600.000 đồng (mười tám triệu sáu trăm nghìn đồng), để sung Ngân sách Nhà nước.
3. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu hóa giá sung Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng đã qua sử dụng, không lắp sim thuê bao của Nguyễn Hữu H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng đã qua sử dụng, kèm theo một sim của Trần L; 01 điện thoại di động Iphone7 màu đen đã qua sử dụng kèm theo một sim của Vi Trung A;
- Trả lại 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Acer màu đen đã qua sử dụng cho chị Hoàng Thanh H (vợ bị cáo Trần L).
(Vật chứng nói trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, có đặc điểm như được mô tả trong biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/5/2020 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án án dân sự phố Lạng Sơn).
* Duy trì lệnh phong tỏa đối với: Tài khoản số 190.33445939.01.1 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần K Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn mang tên Nguyễn Hữu H số tiền trong tài khoản 345.138.560 đồng theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 01/LPT-CSHS ngày 23/4/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn và biên bản phong tỏa tài khoản ngày 24/4/2020; tài khoản số 190.343.59040.01.9 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần KChi nhánh tỉnh Lạng Sơn mang tên mang tên Liễu Thanh T số tiền trong tài khoản 21.509.904 đồng theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 02/LPT-CSHS ngày 23/4/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn và biên bản phong tỏa tài khoản ngày 24/4/2020 để đảm bảo thi hành án.
4. Án phí: Buộc các bị cáo Trần Thành T, Trần L, Vi Trung A, Liễu Thanh T, Nguyễn Hữu H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà Nước.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND thành phố Lạng Sơn; - Công an thành phố Lạng Sơn (02 bản); - Chi cục THADS thành phố Lạng Sơn; - Bị cáo; NLQ - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Huyền |