vanban.org

Bản án 103/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 05/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Trộmcắp tài sản” .

Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231; Điều 234 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Trộmcắp tài sản” .
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103 /2017/HSST
Ngày 05 tháng 9 năm 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

1, Ông Đào Mạnh Tiến

2, Bà Hoàng Thị Hồng

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thảo - Cán bộ Toà án nhân dân Thành phố B

- Đại diện VKSND thành phố B tham gia phiên toà: Ông Vi Đức Thứ - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 101/2017/HSST ngày 28 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Văn T, sinh năm 1989; tên gọi khác: không; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố S, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/12; con ông Hà Văn S, sinh năm 1955 (đã chết); con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1957; gia đình bị cáo có 04 anh, chị em, bị cáo là con thứ 04; vợ, con: chưa có.

Tiền án:

+ Tại Bản án số 38/2012/HSST ngày 21/02/2012, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Tại Bản án số 186/2013/HSST ngày 22/8/2013, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/5/2017 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. (Có mặt tại phiên toà)

* Người bị hại: Anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị N, sinh năm 1967; địa chỉ: Số nhà A, đường A, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

NHẬN THẤY:

Bị cáo Hà Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/3/2017, Hà Văn T cùng bạn là Nguyễn Văn D trú tại số nhà 98, đường L, phường D, thành phố B đến cửa hàng điện thoại di động FPT Shop ở số 36, đường Nguyễn Văn cừ, phường Lê Lợi, thành phố B để hỏi mua điện thoại di động trả góp. Tại đây, T và D gặp nhân viên cửa hàng và hỏi về thủ tục nhưng sau đó không mua điện thoại. Trong lúc ở cửa hàng, T nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu trắng hồng đang để trên bàn của anh Nguyễn Duy H là nhân viên kỹ thuật của cửa hàng vừa tiếp nhận bảo hành cho chị Lê Thị N, sinh năm 1967, trú tại số nhà 20, ngách 24 ngõ 43, đường A, phường P, thành phố B. T cầm chiếc điện thoại lên xem một lúc sau đó để lại trên mặt bán. Một lúc sau, Dương đi ra ngoài hút thuốc. Quan sát xung quang không có ai để ý, T đã trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 6S trên đút vào túi quần bên phải T đang mặc. Sau đó, T ra ngoài cùng Dương và đi về nhà. Do lo sợ bị phát hiện, ngày 21/3/2017, T đã mang chiếc điện thoại đã trộm cắp trả lại cho chị Trịnh Thị L, sinh năm 1994, trú tại thôn L, xã X, huyện G, tỉnh Bắc Giang.

Sau khi phát hiện bị trộm cắp tài sản, anh Nguyễn Duy H đã trình báo Công an thành phố B. Ngày 21/3/2017, anh H đã giao nộp cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu trắng hồng, dung lượng 16G, không có kính camera sau, số imei: 3555697079682286 là chiếc điện thoại mà T đã mang trả lại.

Ngày 16/5/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã bắt tạm giam đối với Hà Văn T.

Tại kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG ngày 24/3/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, dung lượng 16G, màu trắng hồng, mô đen A1688, máy đã qua sử dụng có giá trị là 7.500.000 đồng”.

Ngày 05/5/2017, Cơ quan điều tra đã trả lại anh Nguyễn Duy H chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S nói trên. Đến nay, anh H không yêu cầu bồi thường dân sự.

Đối với anh Nguyễn Văn D là người đi cùng với Hà Văn T đến cửa hàng điện thoại di động FPT Shop ở số 36, đường Nguyễn Văn cừ, phường Lê Lợi, thành phố B nhưng không biết việc T trộm cắp chiếc điện thoại nêu trên, đã khuyên bảo T mang trả lại tài sản trộm cắp nên anh D không vi phạm pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 106/KSĐT ngày 26 tháng 7 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Hà Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo Hà Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.

Người bị hại là anh Nguyễn Duy H vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: Anh là nhân viên kỹ thuật của cửa hàng FPT Shop ở số 36 Nguyễn Văn Cừ, phường Lê Lợi, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Anh là người trực tiếp nhận điện thoại của khách hàng, trực tiếp bồi thường bằng tiền cá nhân cho khách nếu điện thoại của khách bị mất mát hoặc hư hỏng trong quá trình bảo dưỡng, bảo hành. Tối ngày 20/3/2017, anh bị Hà Văn T trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S mà anh nhận bảo trì cho bà Lê Thị N. Nay anh đã được cơ quan điều tra trả lại chiếc điện thoại trên và đã trả lại cho khách hàng. Anh không có yêu cầu hay đề nghị gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị N vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: Tháng 3 năm 2017, bà có mang chiếc điện thoại Iphone 6S đến cửa hàng FPT Shop ở số 36 Nguyễn Văn Cừ, phường Lê Lợi, thành phố B, tỉnh Bắc Giang để bảo hành. Nay bà đã được nhận lại chiếc điện thoại sau khi sửa và bảo hành xong. Bà không có yêu cầu hay đề nghị gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.

2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 16/5/2017.

3. Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY:

Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/3/2017, Hà Văn T có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, dung lượng 16G, màu trắng hồng, mô đen A1688 có giá trị là 7.500.000 đồng do anh Nguyễn Duy H, nhân viên cửa hàng điện thoại di động FPT Shop ở số 36, đường Nguyễn Văn Cừ, phường Lê Lợi, thành phố B có trách nhiệm quản lý.

Hành vi của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” qui định tại Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã có hai tiền án nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo qui định tại điểm c khoản 2 Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì lợi ích trước mắt, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong nội bộ quần chúng nhân dân. Do vậy cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xét xử về hình sự nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cần áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, biết tuân thủ pháp luật.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã tự nguyện trả lại tài sản cho người bị hại nên cần áp dụng điểm b, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào qui định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Cần áp dụng Điều 228 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Trộmcắp tài sản” .

2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn T 02 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 16/5/2017.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231; Điều 234 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Cỡ chữ