vanban.org

Bản án 102/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 25/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án số 50/2019/HSST ngày 16-7-2019 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng và Bản án số 128/2019/HSPT ngày 16/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Tiếp tục phong tỏa số tiền 30.000.000 đồng trong sổ tiết kiệm của Nguyễn Thị A theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 03 ngày 07-11-2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh để đảm bảo việc thi hành án. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/201… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị A can tội Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án số 50/2019/HSST ngày 16-7-2019 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng và Bản án số 128/2019/HSPT ngày 16/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
  • Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2019/HS-ST.
Ngày: 25-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Đình Nhung;

Bà Lê Thị Thúy Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị A, sinh năm 1973, tại tỉnh Tây Ninh.

Nơi cư trú tại: Ấp PH, xã PC, huyện TB, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Lê Thị N (đã chết); có chồng tên Lâm Văn P, có 02 người con (con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 63 ngày 18-9-2019, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Lâm Văn L, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ ngày 13-02-2019, Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Công an huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang Phạm Thanh Tâm đang tổ chức đánh bạc dưới hình thức đánh bài bửu 04 lá thắng thua bằng tiền cho Trần Thị Thúy H, Nguyễn Minh Q, Ngô Thanh Ph, Trần Phong V, Nguyễn Thị G, Hà Phú T1, Đặng Văn T2, Trần Trọng N, Nguyễn Hoàng M, Nguyễn Hữu V1, Võ Thị Bé S, Phạm Thị S, Nguyễn Thị Mỹ B, Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị Ánh T3, Huỳnh Thị Ch và một số đối tượng khác tại nhà Lâm Văn L thuộc ấp Phước Thuận, xã Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; thu giữ trực tiếp tại chiếu bạc số tiền 89.510.000 đồng, thu giữ của những người tham gia đánh bạc tổng số tiền 36.240.000 đồng, 40 lá bài tây, 01 cái mền vải màu đỏ trắng và một số vật chứng khác có liên quan.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị A khai nhận: Bắt đầu tổ chức đánh bạc dưới hình thức đánh bài bửu 04 lá thắng thua bằng tiền tại nhà Lâm Văn L được khoảng 07 ngày thì bị bắt quả tang. Hằng ngày, A thuê Tâm sắp xếp xe, hướng dẫn những người chơi vào chỗ đánh bạc, cảnh giới cơ quan Công an và phục vụ ăn uống cho những người đánh bạc với tiền công từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng; mỗi người làm cái sẽ đưa tiền xâu cho A từ 50.000 đồng đến 500.000 đồng. Trong thời gian tổ chức đánh bạc, A thu lợi bất chính được số tiền 10.500.000 đồng; Cụ thể: Ngày 13/02/2019, A tổ chức cho Trần Thị Thúy H, Nguyễn Minh Q, Ngô Thanh Ph, Trần Phong V, Nguyễn Thị G, Hà Phú T1, Đặng Văn T2, Trần Trọng N, Nguyễn Hoàng M, Nguyễn Hữu V1, Võ Thị Bé S, Phạm Thị S, Nguyễn Thị Mỹ B, Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị Ánh T3, Huỳnh Thị C tham gia chơi đánh bài; mỗi ván đặt cao nhất là 1.000.000 đồng, thấp nhất là 500.000 đồng; đã thu tiền xâu được số tiền 400.000 đồng. Sau đó, A đi công việc riêng và kêu Tâm tiếp tục quản lý chiếu bạc, đến 20 giờ cùng ngày thì bị bắt quả tang.

Sau khi biết nơi tổ chức đánh bạc bị bắt, Nguyễn Thị A bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 20-5-2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bàng ra Quyết định truy nã. Đến ngày 13-9-2019, bị cáo A ra đầu thú và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại Cáo trạng số: 105/CT-VKS ngày 08-11-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị A về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị A 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Do bị cáo nhận thức thấp nên không biết việc làm của bị cáo là sai trái. Nay bị cáo đã biết hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào ngày 13-02-2019, tại nhà ông Lâm Văn L thuộc ấp Phước Thuận, xã Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Nguyễn Thị A cùng Phạm Thanh T4 tổ chức cho 16 người tham gia đánh bạc dưới hình thức bài bửu 04 lá thắng thua bằng tiền với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 125.750.000 đồng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Do đó, đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thị A phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. Bị cáo biết đánh bạc là tệ nạn của xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nhưng vì ham lợi nên bị cáo tổ chức cho những người khác tham gia đánh bạc để thu “tiền xâu”, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt có cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cụ thể:

Về tình tiết tăng nặng: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt thể hiện chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành thật khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với Lâm Văn L có hành vi cho bị cáo Nguyễn Thị A sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu của mình để đánh bạc nhưng không trực tiếp tham gia, không thu lợi từ việc đánh bạc, do đó không đủ cơ sở chứng minh hành vi tổ chức đánh bạc nên không xử lý.

Đối với Phạm Thanh T4, Trần Thị Thúy H, Trần Trọng N, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị Ánh T3, Ngô Thanh Ph, Nguyễn Văn D, Đặng Văn T2, Võ Thị Bé S, Trần Phong V, Nguyễn Hữu V1, Hà Phú T1, Huỳnh Thị C, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Thị Mỹ B, Nguyễn Hoàng M đã bị đưa ra xét xử theo Bản án số 50/2019/HSST ngày 16-7-2019 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng và Bản án số 128/2019/HSPT ngày 16-10-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án số 50/2019/HSST ngày 16-7-2019 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng và Bản án số 128/2019/HSPT ngày 16/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Tiếp tục phong tỏa số tiền 30.000.000 đồng trong sổ tiết kiệm của bị cáo Nguyễn Thị A theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 03 ngày 07-11-2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh để đảm bảo việc thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị A số tiền 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”. Tiền phạt bị cáo sung quỹ Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án số 50/2019/HSST ngày 16-7-2019 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng và Bản án số 128/2019/HSPT ngày 16/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

3. Tiếp tục phong tỏa số tiền 30.000.000 đồng trong sổ tiết kiệm của Nguyễn Thị A theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 03 ngày 07-11-2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh để đảm bảo việc thi hành án.

4. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

5. Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày toà tuyên án.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ